Giáo Dục

Đề bài: Giới thiệu trường học hoặc dụng cụ sinh hoạt hàng ngày


Đề bài: Giới thiệu một đồ dùng học tập hay trong cuộc sống hàng ngày. Theo đó, Baivan gửi tới các bạn 3 dàn ý + bài văn mẫu để các bạn tham khảo. Từ đó, giúp bạn có những bài viết tốt nhất cho mình.

Bài giải:

Bài mẫu 1: Giới thiệu trường học hoặc đồ dùng sinh hoạt (cặp sách).

Đề cương

1. Mở bài: Mô tả ngắn gọn công cụ hoặc vật dụng.

2. Thân bài:

  • Chiếc cặp được người Mỹ phát minh ra vào năm 1988.
  • Kết cấu:
    • Bên ngoài: Nắp cặp, tay cầm, kẹp cặp, dây đeo, các loại khác có bánh xe nhỏ, …
    • Bên trong: có thể có một hoặc nhiều ngăn dùng để đựng sách vở, đồ dùng học tập, áo mưa, v.v.
  • Quy trình: Lựa chọn chất liệu, gia công, may, nối.
    • Có nhiều loại chất liệu phù hợp với yêu cầu của người sử dụng.
    • Kiểu dáng của cặp cũng phải phù hợp.
    • Cặp có nhiều màu sắc, hình ảnh đa dạng, phong phú, bắt mắt phù hợp với từng độ tuổi.
  • Cách sử dụng cặp:
    • Chiếc cặp khi đeo không được vượt quá 15% trọng lượng cơ thể của bạn.
    • Những món đồ nặng nhất nên được đặt ở phần bên trong của túi.
    • Sắp xếp sách vở, đồ dùng học tập không bị xô lệch.
    • Không đeo dây đeo lủng lẳng, dễ bị cong.
    • Không vứt túi bừa bãi, mạnh tay, thường xuyên vệ sinh túi.

3. Kết luận: Mối quan hệ của món đồ hoặc món đồ đó với học sinh hoặc với mọi người nói chung.

Bài văn

Trong suốt quãng đời cắp sách đến trường, học sinh luôn làm bạn với sách, vở, bút, thước,… và coi đó là những vật dụng không thể thiếu. Trong số những dụng cụ học tập đó, vật để đựng những thứ kể trên chính là chiếc cặp – một vật đã gắn bó với em suốt bao năm tháng và chắc chắn sẽ hữu ích với em trong tương lai!

Cặp học sinh được sử dụng rất nhiều trong quá trình học tập cũng như trong cuộc sống. Có một điều chắc chắn là chiếc cặp có thể được đưa vào danh sách những phát minh quan trọng của con người. Chiếc cặp được người Mỹ phát minh ra vào năm 1988.

Về cấu tạo, nhìn bên ngoài chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy nhất: nắp cặp, tay cầm, kẹp cặp, một số cặp có quai xách, một số khác có bánh xe nhỏ dùng để kéo trên đường,… Cấu tạo bên trong, có thể là một hoặc nhiều ngăn dùng để đựng sách vở, đồ dùng học tập, áo mưa, có thể có một ngăn để ví hoặc đồ ăn, thức uống, v.v.

Về quy trình, dù là quy trình may cặp nào thì cũng chỉ có những công đoạn chính bao gồm: Lựa chọn chất liệu, gia công, may, nối. Có nhiều loại chất liệu phù hợp với yêu cầu của người sử dụng: Vải nỉ, vải canvas, da cá sấu, da thuộc, … Dù làm bằng chất liệu gì thì túi cũng phải chắc chắn, vì phải mang vác rất nặng. tập sách nhỏ. Cùng với đó, kiểu dáng của chiếc túi cũng phải phù hợp, ví dụ như các bạn nam thường đeo những chiếc cặp có quai sang một bên để có cá tính mạnh mẽ, năng động. Những cô gái mặc áo dài ôm túi trước ngực toát lên vẻ dịu dàng, nhu mì. Các bé đeo cặp sau lưng để dễ dàng chạy nhảy nô đùa. Cùng với màu sắc, hiện nay có rất nhiều loại cặp với nhiều màu sắc, hình ảnh đa dạng, phong phú, bắt mắt phù hợp với từng lứa tuổi.

Một số mẹo sử dụng cặp đúng cách: Chiếc cặp khi đeo không được vượt quá 15% trọng lượng cơ thể của bạn. Những món đồ nặng nhất nên được đặt ở phần trong của túi (phần tiếp giáp với mặt sau). Sắp xếp sách vở, đồ dùng học tập không bị xô lệch. Hãy chắc chắn rằng những vật dụng trong túi là cần thiết cho các hoạt động trong ngày. Đối với những đôi hai quai, chúng ta không nên đeo một quai lủng lẳng, dễ bị cong. Đối với cặp chỉ có một dây đeo, nên đổi vai để tránh bị cong. Khi mua cặp, bạn nên chọn dây đeo có đệm bông, mút hoặc vải, v.v.

Ngày nay có rất nhiều thương hiệu nổi tiếng như Miti, Samsonite, Tian Ling, Ling Hao,… được ưa chuộng khắp nơi như Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc,… Nhưng dù đẹp đến đâu, bền đến đâu. Mặc dù vậy, nó cũng từ từ xuống cấp theo thời gian nếu chúng ta không biết cách giữ gìn, chẳng hạn như mỗi khi có chuyện tức giận hay vui vẻ là vứt bỏ. Vì vậy, chúng ta không nên vứt túi bừa bãi, mạnh tay, thường xuyên vệ sinh túi để túi luôn sạch sẽ.

Tóm lại, cặp sách là một vật dụng rất cần thiết trong học tập cũng như cuộc sống của chúng ta. Nếu chúng ta sử dụng đúng cách thì nó sẽ mang lại cho chúng ta nhiều lợi ích và có thể coi nó như một người bạn luôn đồng hành cùng mỗi chúng ta. Đặc biệt là đối với học sinh – những chủ nhân tương lai của đất nước

Bài văn mẫu 2: Giới thiệu trường học hoặc đồ dùng sinh hoạt (máy tính).

Đề bài: Giới thiệu trường học hoặc dụng cụ sinh hoạt hàng ngày

Đề cương

1. Mở bài: Mô tả ngắn gọn công cụ hoặc vật dụng.

2. Thân bài:

  • Môn lịch sử:
    • Chiếc máy tính đầu tiên ra đời vào năm 1956.
    • Ban đầu, máy tính có kích thước rất lớn.
    • Theo thời gian, kích thước của máy tính đã bị thu nhỏ lại như ngày nay.
  • Kết cấu:
    • CPU là bộ phận quan trọng nhất của máy tính.
    • Màn hình máy tính thường có kích thước và hình dạng tương đương với một chiếc tivi 21 inch.
  • Sử dụng:
    • Đầu tiên, chúng ta phải cắm vào ổ điện, bật CPU và bật màn hình.
    • Nếu tạo văn bản, hãy nhấp đúp chuột trái vào biểu tượng “W”.
    • Để sử dụng các chương trình khác, chúng ta cũng bật máy tính sau đó sử dụng bàn phím và chuột để nhập thông tin và tạo lệnh.
  • Nhờ có máy tính, học sinh có thể nhanh chóng trao đổi thông tin học tập và tình cảm.

3. Kết luận: Mối quan hệ của món đồ hoặc món đồ đó với học sinh hoặc với mọi người nói chung.

Bài văn

Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ như hiện nay, đối với các em học sinh, ngoài những người bạn quen thuộc như cặp sách, bút chì,… chúng ta còn có một người bạn đặc biệt khác: chiếc máy tính.

Chiếc máy tính đầu tiên ra đời năm 1956. Ban đầu, chiếc máy tính này rất lớn, nó to bằng một căn phòng và chỉ có thể thực hiện một số phép tính đơn giản. Theo thời gian, với sự nỗ lực của các nhà khoa học, kích thước của máy tính đã được thu nhỏ lại như ngày nay.

Máy tính để bàn bao gồm hai bộ phận lớn riêng biệt, CPU và màn hình. CPU là bộ phận quan trọng nhất của máy tính, nó là nơi xử lý dữ liệu rất tinh vi. CPU có dạng hình hộp chữ nhật, kích thước thường là 50 cm * 10 cm * 40 cm. Vỏ ngoài được làm bằng kim loại có sơn phủ cách điện. Bên trong là ổ cứng, bộ vi xử lý, các mạch điện, dây dẫn … Mặt trước của máy tính là hình chữ nhật với kích thước 10 cm * 40 cm. Có các bộ phận nhỏ để nhận đĩa mềm, kết nối USB và máy, hệ thống các nút điều khiển máy… Mặt sau CPU là ổ cắm dây nối CPU với nguồn điện, màn hình, bàn phím và con trỏ chuột. .

Màn hình máy tính thường có kích thước và hình dạng tương đương với một chiếc tivi 21 inch. Nhưng ngày nay do sự phát triển của công nghệ, màn hình máy tính chỉ mỏng khoảng 2cm đến 3cm và được làm bằng tinh thể lỏng.

Ngoài hai bộ phận trên, để hoàn thiện một chiếc máy tính cũng cần phải có bàn phím và con trỏ chuột. Bàn phím có dạng hình chữ nhật, kích thước khoảng 16 cm * 25 cm, các phím có chữ nổi giúp nhập thông tin vào máy. Con trỏ chuột nhỏ, vừa tay, có ba nút để điều khiển các lệnh trên màn hình.

Việc sử dụng máy tính khá đơn giản. Đối với sinh viên, công dụng chính là tạo tài liệu, sử dụng phần mềm ứng dụng, khai thác Internet và… chơi game!

Để sử dụng máy, trước tiên chúng ta phải cắm ổ điện, bật CPU và bật màn hình. Tiếp theo, nếu tạo văn bản, chúng ta nháy đúp chuột trái vào biểu tượng “W” (microsolf word) trên màn hình rồi dùng các phím chữ cái, ghép… nhập thông tin vào trang trống trên màn hình. Để sử dụng các chương trình khác, chúng ta cũng bật máy tính sau đó sử dụng bàn phím và chuột để nhập thông tin và tạo lệnh.

Nhờ có máy tính, học sinh có thể trao đổi thông tin học tập và tình cảm một cách nhanh chóng và dễ dàng, có thể xem và thực hiện các thí nghiệm vật lý và hóa học, cũng như có thể tìm kiếm thông tin. cần thiết cho việc học… Ngoài ra, chúng ta có thể giải trí bằng cách chơi các trò chơi trên máy tính…

Máy tính là một người bạn vô cùng hữu ích đối với các bạn học sinh. Để bảo vệ người bạn đặc biệt này, chúng ta cần thường xuyên vệ sinh bàn phím, lau bụi các bộ phận của máy. Ngoài ra, chúng ta cần để máy nơi khô ráo, tránh ẩm ướt. Đặc biệt, nên cài đặt chương trình diệt virus – tác nhân có thể phá hủy dữ liệu trong máy tính.

Bài mẫu 3: Giới thiệu đồ dùng học tập, sinh hoạt (cái bàn).

Đề bài: Giới thiệu trường học hoặc dụng cụ sinh hoạt hàng ngày

Đề cương

1. Mở bài: Mô tả ngắn gọn công cụ hoặc vật dụng.

2. Thân bài:

  • Kết cấu:
    • Vật liệu để làm bàn làm việc thường bằng gỗ.
    • Mặt bàn là hình chữ nhật, bằng gỗ ốp hoặc ván ép.
    • Bàn cổ có bốn chân và ngăn kéo.
    • Bàn kiểu mới có thêm một ngăn phụ chạy song song với mặt bàn.
    • Mặt bàn có thể bằng gỗ ván mịn hoặc ván ép phẳng được sơn hoặc đánh vecni.
  • Bàn được đặt ở vị trí hợp lý trong nhà, thường là gần cửa sổ, hướng sân ra vườn.
  • Trên bàn của mỗi học sinh có một số cuốn sách, một chiếc đèn bàn, một chiếc đồng hồ và một vài đồ dùng học tập khác.
  • Vào mỗi buổi tối, mặt bàn được thắp sáng bởi ánh đèn, trở thành nơi học bài và làm bài của học sinh.
  • Bàn phải đi với ghế; ghế để học, đọc, làm bài tập.
  • Bên cạnh bàn học thường là tủ sách hoặc giá sách.

3. Kết luận: Mối quan hệ của món đồ hoặc món đồ đó với học sinh hoặc với mọi người nói chung.

Bài văn

Trong góc học tập của mỗi học sinh đều có một chiếc bàn. Chiếc bàn là một đồ dùng học tập và sinh hoạt rất thân thiết với mỗi chúng ta khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

Vật liệu để làm bàn làm việc thường bằng gỗ. Chủ yếu là gỗ trơn. Mặt bàn hình chữ nhật, dài 120cm, rộng 60cm, làm bằng ván gỗ hoặc ván ép. Bàn cổ có bốn chân và ngăn kéo. Bàn kiểu mới có khoang bên chạy song song với mặt bàn, bên phải là khoang cao 60-70cm, rộng 50cm, dài 60cm bằng chiều rộng mặt bàn có thể để được. nhiều thứ. Người thợ mộc dùng hai tấm ván gỗ vừa làm chân bàn, vừa làm ngăn để đồ dùng, sách vở; Chiếc bàn trở nên vuông vắn và chắc chắn.

Mặt bàn có thể bằng gỗ bào mịn hoặc ván ép phẳng được sơn hoặc đánh vecni màu đẹp, bóng. Bàn học được đặt ở vị trí hợp lý trong nhà, thường là gần cửa sổ, hướng sân ra vườn, nơi có ánh sáng chiếu vào tạo sự thông thoáng cho góc học tập.

Trên bàn của mỗi học sinh có một số cuốn sách, một chiếc đèn bàn, một chiếc đồng hồ và một vài đồ dùng học tập khác. Bạn có thể đặt một chậu hoa nhỏ, trang trí một số bức tranh đẹp được cắt từ tượng hình. Chỉ cần nhìn những thứ được bày biện, sắp xếp… trên bàn là có thể hiểu được phần nào đạo đức, lối sống, nếp sinh hoạt và tinh thần học tập của cô, trò – chủ nhân của chiếc bàn đó.

Ngoài việc học ở trường ban ngày, học sinh còn phải tự học ở nhà. Vào mỗi buổi tối, mặt bàn được thắp sáng bởi ánh đèn, trở thành nơi học bài và làm bài của học sinh. Thời gian tự học gắn với chiếc bàn có thể dài ngắn khác nhau, càng lên cao học sinh có thể ngồi học đến 10-11h tối mới đi ngủ.

Trước đây, bàn học của các nhà Nho được gọi là án thư. Nguyễn Trãi có bài thơ Quốc âm: “Cuốn sách, ngọn đèn, hai người bạn già”. Trong suốt những năm tháng dài “sục sôi lịch sử”, chiếc đèn, chiếc bàn (án ngữ) đã trở thành những người bạn vô cùng thân thiết với những chú, ông, bà tương lai.

Bàn phải đi với ghế; Một chiếc ghế để học, đọc và làm bài tập.

Bên cạnh bàn học thường là tủ sách hoặc giá sách.

Chiếc bàn là một vật bình dị và gần gũi, nó phản ánh đầy đủ nhất nề nếp, truyền thống hiếu học của bất cứ gia đình, học sinh nào. Gia đình văn hóa phải có góc học tập, bàn học tươm tất cho thanh, thiếu niên trong những năm học.

.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button