Wiki

Granit Xhaka

Granit Xhaka
Granit Xhaka
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Granit Xhaka
Ngày sinh 27 tháng 9, 1992 (28 tuổi)
Nơi sinh Basel, Thụy Sĩ
Chiều cao 1,85 m (6 ft 1 in)
Vị trí Tiền vệ
Thông tin câu lạc bộ
Đội hiện nay Arsenal
Số áo 34
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
2000–2002 Concordia Basel
2002–2010 Basel
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2010–2012 Basel 44 (2)
2012–2016 Borussia Mönchengladbach 108 (6)
2016– Arsenal 161 (9)
Đội tuyển quốc gia
2008–2009 U-17 Thụy Sĩ 14 (1)
2009–2010 U-18 Thụy Sĩ 14 (3)
2010–2011 U-19 Thụy Sĩ 10 (3)
2010–2011 U-21 Thụy Sĩ 5 (0)
2011– Thụy Sĩ 98 (12)
Thành tích

Related Articles
Bóng đá nam
Đại diện cho Granit Xhaka Thụy Sĩ
Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới
Vô địch Nigeria 2009
Giải vô địch bóng đá U-21 châu Âu
Á quân Đan Mạch 2011
* Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ chuyên nghiệp chỉ được tính cho giải quốc gia và chính xác tính đến 23 tháng 5 năm 2021
‡ Số lần khoác áo đội tuyển quốc gia và số bàn thắng chính xác tính đến 20 tháng 6 năm 2021

Granit Xhaka (phát âm tiếng Albania: [ɡɾaˈnit ˈdʒaka]; sinh ngày 27 tháng 9 năm 1992) là một cầu thủ bóng đá người Thụy Sĩ hiện đang chơi ở vị trí tiền vệ cho câu lạc bộ Arsenal của Anh và đội tuyển Thụy Sĩ. Xhaka bắt đầu sự nghiệp tại câu lạc bộ quê nhà Basel và từng đoạt danh hiệu vô địch quốc gia trong hai mùa giải đầu tiên của mình. Sau đó anh chuyển đến chơi bóng cho câu lạc bộ Borussia Mönchengladbach tại Bundesliga năm 2012, phát triển danh tiếng thành một cầu thủ có tố chất kĩ thuật tốt và thủ lĩnh tự nhiên bên cạnh tính khí thất thường của mình. Xhaka được trao băng đội trưởng của Borussia Mönchengladbach năm 2015 ở tuổi 22, đưa đôi bóng giành suất tham dự UEFA Champions League trong hai mùa bóng liên tiếp. Anh hoàn tất thủ tục gia nhập Arsenal vào tháng 5 năm 2016, với mức phí chuyển nhượng 30 triệu bảng. Được coi là một trong những cầu thủ tài năng xuất sắc nhất của thế hệ mình, anh bắt đầu chơi tuyển Thụy Sĩ từ năm 2011 và có hơn 80 lần ra sân đại diện cho đội tuyển tham dự World Cup 2014, Euro 2016, World Cup 2018 và Euro 2020.

Cuộc đời


Xhaka sinh ra tại Basel, Thụy Sĩ. Xhaka có một người anh trai là Taulant Xhaka, cũng là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp và hiện đang thi đấu cho Đội tuyển bóng đá quốc gia Albania , đội tuyển vừa có lần đầu tiên tham dự một vòng chung kết của Giải bóng đá vô địch châu Âu. Gia đình Xhaka chuyển từ Kosovo đến Thụy Sĩ trước cả khi anh chào đời.

Sự nghiệp câu lạc bộ


Hai anh em Taulant và Granit bắt đầu sự nghiệp bóng đá tại Concordia Basel và đều chuyển đến Basel năm 2012. Xhaka chơi cho nhiều lứa trẻ của Basel và từ năm 2008 đã trở thành thành viên của đội U-21. Từ 2008-2010, anh chơi 37 trận cho đội U-21 và ghi bảy bàn thắng.

Basel

Cựu huấn luyện viên Basel, Thorsten Fink từng nói rằng: “Xherdan Shaqiri là cầu thủ bóng đá tài năng nhất Thụy Sĩ… chỉ sau Granit Xhaka. Huấn luyện viên của đội tuyển bóng đá Thụy Sĩ Ottmar Hitzfeld, cũng từng ví von anh là một phiên bản trẻ tuổi của cầu thủ nổi tiếng Bastian Schweinsteiger.’

Kể từ mùa 2010-11, Xhaka bắt đầu thi đấu cho đội một của FC Basel. Anh có trận đấu ra mắt tại vòng sơ loại thứ ba mùa 2010-11 UEFA Champions League 2010-11 làm khách trước Debreceni VSC tại sân vận động Ferenc Szusza. Đến cuối trận đấu, anh ghi bàn thứ hai trong thắng lợi 2-0 của Basel. Anh lập công lần đầu tại Super League trong chiến thắng sân nhà 5-1 trước Thun vào ngày 15 tháng 5 năm 2011. Vào cuối mùa 2010-11, Xhaka đoạt danh hiệu vô địch Super League cùng Basel; còn trong mùa tiếp theo anh còn giành cú đúp danh hiệu vô địch quốc gia và Siêu cúp Thụy Sĩ cùng đội bóng.

Borussia Mönchengladbach

Granit Xhaka Xhaka (trái) tranh bóng với Lionel Messi trong một trận giao hữu giữa Thụy Sĩ và Argentina vào ngày 29 tháng 2 năm 2012.

Trước khi có trận ra mắt quốc tế Thụy Sĩ, Xhaka vẫn do dự nên chơi cho đất nước mình sinh ra hay Albania, anh phàn nàn với truyền thông thể thao Albania rằng FSHF đang lờ anh đi trong khi Liên đoàn bóng đá Thụy Sĩ thể hiện sự quan tâm hơn nhiều. Xhaka ra mắt tại sân vận động Wembley trong trận hòa 2-2 với Anh tại vòng loại giải vô địch bóng đá châu Âu 2012 vào ngày 4 tháng 6 năm 2011. Ngày 15 tháng 11 cùng năm, anh đã ghi bàn thắng quốc tế đầu tiên trong trận đấu với Luxembourg (1-0) ở Stade Josy Barthel.

Thụy Sĩ đã cố để thuyết phục Xhaka tham dự Thế vận hội Mùa hè 2012 cho bóng đá nam, nhưng anh đã chọn ở lại câu lạc bộ mới để tập luyện trước mùa giải. Anh tham dự cả 10 trận đấu thuộc chiến dịch vòng loại giải vô địch bóng đá thế giới 2014, lập công trong chiến thắng 2-0 trước Slovenia.. Ngày 2 tháng 6 năm 2014, Xhaka có tên trong đội hình chính thức tại đội tuyển quốc thi đấu giải vô địch thế giới 2014 bởi huấn luyện viên trưởng Ottmar Hitzfeld. Xhaka có bàn thắng thứ 2 trong trận thua 2-5 trước đội tuyển Pháp.

Xhaka được triệu tập tham dự giải vô địch châu Âu 2016, nơi Thụy Sĩ có trận mở màn chiến dịch với Albania tại Lens. Đội bóng của Xhaka giành chiến thắng 1-0 trước đội bóng của người anh Taulant, trong khi mẹ anh theo dõi trận đấu từ khán đài trong một chiếc áo thun có in hình quốc kì của hai nước. Đây là trận đấu đầu tiên hai anh em ruột đối đầu trực tiếp với nhau trong lịch sử Giải vô địch bóng đá châu Âu; bản thân Xhaka được bình chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất trận. Xhaka đã chơi chọn chiến dịch của Thụy Sĩ, kết thúc ở vòng 16 đội sau khi thua Ba Lan tại Stade Geoffroy-Guichard; sau khi hai đội hòa 1-1 sau 90 phút thi đấu chính thức, anh là cầu thủ duy nhất sút hỏng ăn trên chấm đá luân lưu.

Xhaka tiếp tục có tên trong danh sách 23 cầu thủ tham dự World Cup 2018 diễn ra tại Nga. Trong lượt trận thứ hai bảng E gặp Serbia, anh là người đã ghi bàn thắng gỡ hòa 1-1 để rồi chung cuộc Thụy Sĩ vượt qua Serbia với tỉ số 2-1. Đội tuyển Thụy Sĩ sau đó vượt qua vòng bảng nhưng thất bại 0-1 trước Thụy Điển ở vòng 16 đội. Đây là lần thứ hai liên tiếp Thụy Sĩ phải dừng bước ở vòng 16 đội.

Thống kê


Câu lạc bộ

Tính đến ngày 23 tháng 5 năm 2021
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cúp quốc gia Cúp liên đoàn Châu Âu Khác Tổng cộng
Giải đấu Ra sân Ghi bàn Ra sân Ghi bàn Ra sân Ghi bàn Ra sân Ghi bàn Ra sân Ghi bàn Ra sân Ghi bàn
Basel 2010–11 Super League 19 1 2 0 5 1 0 0 26 2
2011–12 23 0 4 0 8 0 0 0 35 0
Tổng cộng 42 1 6 0 13 1 0 0 61 2
Borussia Mönchengladbach 2012–13 Bundesliga 22 1 2 0 9 0 0 0 33 1
2013–14 28 0 1 0 0 0 29 0
2014–15 30 2 3 0 9 3 0 0 42 5
2015–16 28 3 3 0 5 0 0 0 36 3
Tổng cộng 108 6 9 0 23 3 0 0 140 9
Arsenal 2016–17 Premier League 32 2 5 0 2 1 7 1 0 0 46 4
2017–18 38 1 0 0 3 1 6 1 1 0 48 3
2018–19 29 4 1 0 1 0 9 0 0 0 40 4
2019–20 31 1 6 0 0 0 4 0 0 0 41 1
2020–21 31 1 2 0 1 0 10 0 1 0 45 1
Tổng cộng 161 9 14 0 7 2 36 2 2 0 220 13
Tổng cộng sự nghiệp 311 16 29 0 7 2 72 6 2 0 421 24

Quốc tế

Tính đến 28 tháng 6 năm 2021.
Thụy Sĩ
Năm Số trận Số bàn
2011 6 1
2012 9 2
2013 8 1
2014 10 1
2015 6 1
2016 11 0
2017 9 2
2018 13 2
2019 10 2
2020 7 3
2021 9 0
Tổng cộng 98 12

Bàn thắng quốc tế

# Thời gian Địa điểm Đội tuyển Tỉ số Chung cuộc Giải đấu
1 15 tháng 11 năm 2011 Sân vận động Josy Barthel, Thành phố Luxembourg, Luxembourg Granit Xhaka Luxembourg 1–0 1–0 Giao hữu
2 15 tháng 8 năm 2012 Sân vận động Poljud, Split, Croatia Granit Xhaka Croatia 4–2
3 7 tháng 9 năm 2012 Sân vận động Stožice, Ljubljana, Slovenia Granit Xhaka Slovenia 2–0 Vòng loại World Cup 2014
4 15 tháng 10 năm 2013 Stade de Suisse, Bern, Thụy Sĩ 1–0
5. 20 tháng 6 năm 2014 Itaipava Arena Fonte Nova, Salvador, Brasil Granit Xhaka Pháp 2–5 2–5 World Cup 2014
6. 27 tháng 3 năm 2015 Swissporarena, Luzern, Thụy Sĩ Granit Xhaka Estonia 2–0 3–0 Vòng loại Euro 2016
7. 9 tháng 6 năm 2017 Tórsvøllur, Tórshavn, Quần đảo Faroe Granit Xhaka Quần đảo Faroe 1–0 2–0 Vòng loại World Cup 2018
8. 7 tháng 10 năm 2017 St. Jakob-Park, Basel, Thụy Sĩ Granit Xhaka Hungary 5–2
9. 27 tháng 3 năm 2018 Swissporarena, Luzern, Thụy Sĩ Granit Xhaka Panama 2–0 6–0 Giao hữu
10. 22 tháng 6 năm 2018 Sân vận động Kaliningrad, Kaliningrad, Nga Granit Xhaka Serbia 1–1 2–1 World Cup 2018
11. 26 tháng 3 năm 2019 St. Jakob Park, Basel, Thụy Sĩ Granit Xhaka Đan Mạch 2–0 3–3 Vòng loại Euro 2020
12. 18 tháng 11 năm 2019 Sân vận động Victoria, Gibraltar Granit Xhaka Gibraltar 6–1 6–1

Danh hiệu


Câu lạc bộ

Basel
  • Swiss Super League: 2010–11, 2011–12
  • Swiss Cup: 2011–12
  • Uhrencup: 2011
  • Swiss Super League U-16: 2007–08
  • Swiss Cup U-16: 2007–08
Arsenal
  • FA Cup: 2016-2017, 2019-2020
  • Community Shield: 2017, 2020

Đội tuyển quốc gia

Thụy Sĩ
  • FIFA U-17 World Cup: 2009
  • Giải vô địch bóng đá U-21 châu Âu: 2011

Cá nhân

  • Cầu thủ trẻ Thụy Sĩ của năm: 2012

Check Also
Close
Back to top button