Wiki

Phạm Quỳnh

Đối với các định nghĩa khác, xem Phạm Quỳnh (định hướng).

Phạm Quỳnh
Chức vụ
Thượng thư Bộ Lại
Nhiệm kỳ 1942 – 1945
Hoàng đế Bảo Đại
Tiền nhiệm Thái Văn Toản
Kế nhiệm cuối cùng
Vị trí Đại Nam
Thượng thư Bộ Quốc gia Giáo dục
Nhiệm kỳ 1933 – 1942
Kế nhiệm Trần Thanh Đạt
Ngự tiền Văn phòng Triều đình Bảo Đại
Nhiệm kỳ 1932 – 1933
Chủ bút Nam Phong tạp chí
Nhiệm kỳ 1917 – 1932
Tiền nhiệm đầu tiên
Kế nhiệm Nguyễn Tiến Lãng
Thông tin chung
Sinh (1892-12-17)17 tháng 12, 1892
Hà Nội, Bắc Kỳ, Liên bang Đông Dương
Mất 6 tháng 9, 1945(1945-09-06) (52 tuổi)
Thừa Thiên, Trung Bộ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Nghề nghiệp Nhà báo, quan lại
Dân tộc Kinh
Vợ Lê Thị Vân (1892-1953)
Cha Phạm Hữu Điển
Con cái Phạm Giao
Phạm Thị Giá
Phạm Thị Thức
Phạm Bích
Phạm Thị Hảo
Phạm Thị Ngoạn
Phạm Khuê
Phạm Thị Hoàn
Phạm Tuyên
Phạm Thị Diễm (Giễm)
Phạm Thị Lệ
Phạm Tuân
Phạm Thị Viên.
Học sinh trường Trường Bưởi

Phạm Quỳnh (chữ Hán: 范瓊; 17 tháng 12 năm 1892 – 6 tháng 9 năm 1945) là một nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn và quan đại thần triều Nguyễn (Việt Nam). Ông là người đi tiên phong trong việc quảng bá chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt – thay vì chữ Nho hay tiếng Pháp – để viết lý luận, nghiên cứu. Ông có tên hiệu là Thượng Chi (尚之), bút danh: Hoa Đường (華堂), Hồng Nhân.

Ông được xem là người có quan điểm ủng hộ việc tự trị của Việt Nam dưới sự bảo hộ của thực dân Pháp, việc khôi phục quyền hành của Triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung, Nam), và kiên trì chủ nghĩa quốc gia với thuyết Quân chủ lập hiến. Tuy nhiên, ông cũng bị nhiều người đương thời chỉ trích vì thái độ thân Pháp và cộng tác với chính quyền thực dân Pháp.

Tiểu sử


Phạm Quỳnh Phạm Duy Tốn, Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh Paris 1922

Related Articles

Phạm Quỳnh sinh tại số 17 phố Hàng Trống, Hà Nội; quê quán ở làng Lương Ngọc (nay thuộc xã Thúc Kháng), phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương, một làng khoa bảng, có truyền thống hiếu học. Mồ côi mẹ từ 9 tháng tuổi, mồ côi cha từ khi lên 9 tuổi, Phạm Quỳnh côi cút được bà nội nuôi ăn học.

Phạm Quỳnh học giỏi, có học bổng, đỗ đầu bằng Thành chung (tốt nghiệp) Trường trung học Bảo hộ (tức Trường Bưởi, còn gọi là trường Thông ngôn).

Hoạt động báo chí, văn hóa xã hội


Năm 1908, Phạm Quỳnh làm việc ở Trường Viễn Đông Bác cổ tại Hà Nội lúc 16 tuổi.

Từ năm 1916, ông tham gia viết báo cho một số tờ. Ông làm chủ bút (tương đương chức vụ tổng biên tập) của Nam Phong tạp chí từ ngày 1 tháng 7 năm 1917 cho đến năm 1932. Việc thành lập tạp chí “Nam Phong tạp chí” là chủ trương của chính phủ Liên bang Đông Dương do toàn quyền Pháp là Albert Sarraut đề xướng với mục tiêu đẩy mạnh ảnh hưởng văn hóa và chính trị của Pháp. Kinh phí của báo là do chính phủ Pháp trang trải, cùng đứng tên là Giám đốc Sở mật thám Đông Dương Louis Marty.

Tôn chỉ của Nam phong tạp chí là “Mục đích báo Nam phong là thể cái chủ nghĩa khai hóa của Chính phủ, biên tập những bài bằng Quốc văn, Hán văn, Pháp văn để giúp sự mở mang tri thức, giữ gìn đạo đức trong quốc dân An Nam, truyền bá các khoa học của Thái Tây, nhất là học thuật tư tưởng Đại Pháp, bảo tồn quốc túy của nước Việt Nam ta, cùng bênh vực quyền lợi người Pháp người Nam trong trường kinh tế… Báo Nam phong lại chủ ý riêng về sự tập luyện văn quốc ngữ cho thành một nền quốc văn An Nam“. Ông chủ trương dung hòa hai nền văn hóa Đông và Tây, bỏ mọi cái dở, chỉ chọn lấy cái tốt bổ ích; đề xướng dùng tiếng Việt để diễn đạt mọi khái niệm, tư tưởng, học thuyết chứ không dùng tiếng Hán như những người theo cựu học hoặc tiếng Pháp như những người theo tân học. Ông phê phán giới trí thức Việt Nam xưa sùng bái chữ Hán, nay sùng bái tiếng Pháp, đều là nô lệ tinh thần cho nước ngoài. Đây là chủ trương mới mẻ vào thời đó khi những trí thức Hán học chỉ dùng tiếng Hán để viết văn còn trí thức Tây học chỉ dùng tiếng Pháp, còn trong nhà trường Pháp ngữ là ngôn ngữ học thuật chính thống. Nam Phong tạp chí tuyên bố mục đích là gây dựng một nền học thuật mang tính dân tộc và đại chúng của người Việt nhằm phát triển văn hóa và khoa học của Việt Nam có thể sánh vai với các nước trên thế giới.

Theo Tuần báo Văn nghệ, tờ Nam Phong có chủ trương chống lại ảnh hưởng từ các tư tưởng chống Pháp do Phan Bội Châu đề xướng và lan rộng. Do vậy, Nam Phong chuyên viết bài truyền bá cho tư tưởng “Pháp Việt đề huề”, cổ vũ người Việt cộng tác với chính quyền thực dân Pháp: tập trung tán dương và ca tụng chính sách cai trị của thực dân Pháp ở Đông Dương về hành chính, kinh tế; ca ngợi nước Đại Pháp trường tồn vĩnh viễn và các quan cai trị Pháp tại Việt Nam, qua đó gián tiếp chống lại những lời lên án chính quyền thực dân Pháp của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh từ hải ngoại gửi về trong nước. Không những ca ngợi chính quyền thực dân, Nam Phong còn ca ngợi cả triều đình nhà Nguyễn của vua Khải Định. Giáo sư sử học Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn đã gọi Nam Phong là “cơ quan tuyên truyền chính thức cho đường lối chính trị của thực dân Pháp ở Việt Nam”.

Có phân tích cho rằng: Mục đích thứ nhất của Nam Phong là đào tạo các trí thức cũ hướng theo lề lối Pháp. Tờ Nam Phong tuy ra vẻ độc lập vô tư, nhưng điều cốt yếu là làm cho người đọc chấp nhận sự bảo hộ của Pháp về phương diện tinh thần và trí thức, cảm thấy khâm phục văn hóa Pháp. Việc dùng chữ Quốc ngữ cũng là để vận động cho “Chủ nghĩa Pháp – Việt”, nhằm “cột Việt Nam vào Pháp bằng dây thừng văn hóa”, như vậy thì vững bền hơn là dùng vũ lực. Khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, tờ Nam Phong còn hô hào người Việt hãy phục vụ cho pháp, cổ động người Việt đóng góp tiền cho Pháp với khẩu hiệu “Rồng Nam phun bạc, đánh đổ Đức tặc”. Giáo sư Sử học Văn Tạo có nhận xét: “Ông Phạm Quỳnh có công chuyển tải văn hóa Đông – Tây trên văn đàn, báo giới Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm cho ngôn ngữ văn hóa Việt Nam. Điều đáng chê trách nhất ở ông là đã ra làm chủ bút cho báo Nam Phong do tên trùm mật thám Louis Marty chủ trì. Với chức danh đó, ông không thể không có sai lầm làm hại đến quyền lợi dân tộc”. Nhà sử học Trần Văn Giàu thì gọi chủ nghĩa quốc gia của Nam Phong là “chủ nghĩa quốc gia ăn xin”, tức là chỉ trông đợi thực dân Pháp ban cho ân huệ.

Ngày 2 tháng 5 năm 1919, ông sáng lập và là Tổng Thư ký Hội Khai trí Tiến Đức, Trần Trọng Kim là Trưởng ban Văn học của Hội.

Năm 1922, với tư cách đại diện cho Hội Khai trí Tiến Đức, ông đã sang Pháp dự Hội chợ triển lãm Marseille rồi diễn thuyết cả ở Ban Chính trị và Ban Luân lý Viện Hàn lâm Pháp về dân tộc giáo dục. Tại đây, ông ca ngợi công cuộc “khai hóa văn minh” của nước Pháp như sau:

40 năm qua, dân nước Nam sống dưới sự bảo hộ của nước Pháp… Ban đầu chúng tôi coi tình trạng này như là một việc bị áp đặt do nền chính trị yếu kém của chúng tôi không cho phép chống lại một kẻ đi chinh phục mạnh bạo hơn nhiều. Nhưng dần dần, trong khi chung sống, chúng tôi ngày càng hiểu biết các ngài rõ hơn. Chúng tôi biết rõ hơn về nước Pháp và vị thế của nó trên thế giới. Và dưới tác động của vẻ duyên tinh thần Pháp, chúng tôi dần dần bị cuốn hút, bị chinh phục bởi nền văn hóa và nền văn minh của các ngài… ngày nay, giới tinh hoa nước Nam đã hoàn toàn tin tưởng vào chính quyền Pháp, hơn thế nữa, còn hoàn toàn tin cậy nước Pháp chăm lo cho công việc học hành và giáo dục của mình.

Năm 1924 ông được mời làm giảng viên Khoa Bác ngữ học, Văn hóa, Ngữ ngôn Hoa Việt, Trường Cao đẳng Hà Nội, trợ bút báo France – Indochine.

Từ năm 1925 – 1928, Phạm Quỳnh là Hội trưởng Hội Trí tri Bắc Kỳ; năm 1926 ông làm ở Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ và đến năm 1929 được cử vào Hội đồng Kinh tế và Tài chính Đông Dương. Từ năm 1925, trong một bức thư trả lời một anh học trò tên Đông, nhà yêu nước Phan Châu Trinh đã có nhận xét: “… gặp những người lờ đờ, đen không ra đen, trắng không ra trắng, bên nào cũng chẳng mất lòng ai cả, nói trăm điều trượt đến chín mươi chín, anh bảo tôi lại đề huề với những người đó để nhận chìm những 20 triệu đồng bào xuống hỏa ngục sao?… còn các anh như Phạm Quỳnh thì tôi thấy một hai bài trong nhật trình, không những là giả dối vẽ vời mà lại nói lắm điều hại cho thanh niên nhiều lắm”. Trong thư này, Phan Châu Trinh phê phán thái độ “bắt cá hai tay”, vừa tỏ vẻ yêu nước, vừa cộng tác với Pháp của Phạm Quỳnh. Khi Phan Châu Trinh qua đời năm 1926, phong trào truy điệu, để tang diễn ra trên cả nước để thể hiện tinh thần yêu nước và chống Pháp, nhưng Phạm Quỳnh thì đả kích rằng “…đây chỉ là một nhóm người khai thác một cái xác chết…”

Năm 1930 Phạm Quỳnh đề xướng thuyết lập hiến, đòi hỏi người Pháp phải thành lập hiến pháp, để quy định rõ ràng quyền căn bản của nhân dân Việt Nam, vua quan Việt Nam và chính quyền bảo hộ. Phạm Quỳnh phản đối những phong trào chống Pháp như khởi nghĩa Yên Bái và Xô Viết Nghệ Tĩnh, ông gọi họ là “bọn cường đồ, phản loạn” và mong Nhà nước Bảo hộ (Pháp) trừng trị thật mạnh. Nhóm Phong Hóa Ngày Nay thì liên tiếp công kích Phạm Quỳnh, tờ báo “Phong Hóa” của nhóm này liên tục có bài phê bình, chế giễu dưới hình thức thơ văn, ca dao, nghị luận, tranh khôi hài của những tác giả như Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ…

Trong một bài viết trên báo Sông Hương, ông đã đả phá Trần Trọng Kim và các sử gia phong kiến khi cho Triệu Đà là vua của nước Nam. Theo ông, “Quốc sử phải lấy dân tộc làm nền”, “sử gia phong kiến tôn y (Triệu Đà) là ông vua khai quốc, ấy là đã làm một việc vô nghĩa… Hoặc có ai ngờ cho tôi sở dĩ cái kiến giải nầy là tại quá trọng về quốc gia chủ nghĩa, và cũng bởi cái chủ nghĩa ấy khích thích nên tôi mới viết bài này”.

Năm 1931 ông được giao chức Phó Hội trưởng Hội Địa dư Hà Nội. Năm 1932, giữ chức Tổng Thư ký Ủy ban Cứu trợ xã hội Bắc Kỳ.

Thượng thư Nam triều


Phạm Quỳnh 5 vị Thượng thư thời vua Bảo Đại, từ trái qua phải: Hồ Đắc Khải, Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Ngô Đình Diệm, Bùi Bằng Đoàn.

Năm 1931, khi gửi thư cho Tổng trưởng thuộc địa Pháp cho “xin lại Tổ quốc đã mất”, Phạm Quỳnh viết như sau:

“Người nước Nam không phải thể hiện ồn ào lòng trung thành của họ đối với nước Pháp. Chỉ cần họ chấp nhận sự đô hộ của nước Pháp. Yêu cầu họ phấn khởi chấp nhận điều đó như một ân huệ của Chúa hay một ân huệ Thiên Hựu, tới mức khiến họ quên rằng họ đã từng có một Tổ quốc và không còn nuối tiếc Tổ quốc ấy nữa”.

Trong một đoạn khác của bức thư, Phạm Quỳnh viết:

“Về phương diện quốc gia thì sự khủng hoảng ấy có thể tóm lại một câu như sau: Chúng tôi là một dân tộc đang đi tìm tổ quốc mà chưa thấy tổ quốc ở đâu… Chúng tôi chỉ thỉnh cầu ngài có một điều, một điều rất thiết tha quan hệ hơn cả các điều khác, là xin ngài cho chúng tôi cái tổ quốc để chúng tôi thờ”

Ngày 11 tháng 11 năm 1932, sau khi Bảo Đại lên làm vua thay Khải Định, ông được triều đình nhà Nguyễn triệu vào Huế tham gia chính quyền, thôi không làm chủ bút Nam Phong tạp chí nữa. Tại Huế thời gian đầu ông làm việc tại Ngự tiền Văn phòng, sau đó làm Thượng thư Bộ Học và cuối cùng giữ chức vụ Thượng thư Bộ Lại (1942-1945). Vua Bảo Đại viết trong hồi ký “Con rồng An Nam” rằng Phạm Quỳnh giống như một mật thám của Pháp bố trí bên cạnh để khống chế ông:

“Tôi đóng vai trò bình phong, làm phỗng đá để cho các quan lại của họ (Pháp) tha hồ làm mưa làm gió. Họ cũng đặt ở các địa vị then chốt những bọn tay sai dễ bảo, bọn trung thành tuyệt đối. Họ đặt Phạm Quỳnh cạnh tôi, như vậy là họ được bảo đảm rồi”

Khi làm quan, Phạm Quỳnh từng sang Pháp đề nghị Pháp thực hiện Hòa ước Giáp Thân (1884), báo Ngày Nay số ngày 26/8/1939 viết:

“Trong bảy năm ông làm một trụ cột trong triều đình Huế, lương cao, bổng hậu, ông đã không làm được một mảy may cho dân cho nước. Và mới đây công việc ông định làm là sang Pháp xin trở lại hòa ước 1884 và sát nhập Bắc Kỳ vào Trung Kỳ dưới triều đình Huế – thật là một việc thất sách và vụng về hết chỗ nói…
Dân đất Bắc như ông Phạm Quỳnh nói, cũng muốn lắm có một “tổ quốc để mà thờ” nhưng tổ quốc ấy phải là một tổ quốc hiện thực. Chứ đòi về một thứ tổ quốc “bố vờ” mà lại mất hết những thứ hiện có thì ôi thôi, chúng tôi xin bái ngoảnh ông Phạm Quỳnh lẫn công ty của ông và cả mũ cánh chuồn của ông nữa!”.

Khi bị nhiều người đương thời lên án là kẻ bán nước thì Phạm Quỳnh đã trả lời: “Khi tôi sinh ra thì nước đã mất rồi, tôi làm sao bán được!”. Câu nói này của Phạm Quỳnh thời đó nổi tiếng đến mức đến ngày nay vẫn có người nhắc lại.

Cuối đời


Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập. Bảo Đại muốn tạm cử Phạm Quỳnh là người thay mặt chính phủ Việt Nam để giao thiệp với Nhật. Ông Phạm Khắc Hòe, Tổng lý Ngự triều Văn phòng của triều đình, nói với Bảo Đại rằng: “Phạm Quỳnh là một người xấu, bị mọi tầng lớp nhân dân oán ghét và giới trí thức khinh bỉ… cho nên nếu nhà vua thực tâm vì dân, vì nước thì không nên dùng Phạm Quỳnh nữa”. Cụ Bùi Bằng Đoàn và cụ Ưng Úy là hai vị thượng thư tương đối có uy tín trong Hội đồng Cơ mật và trong quan trường nói chung đều nói với ông Phạm Khắc Hòe là “cần làm cho nhà vua thấy rõ bản chất xấu xa và nguy hiểm của Phạm Quỳnh”. Phát xít Nhật cũng không muốn ủng hộ một con người bị nhiều điều tiếng như Phạm Quỳnh nên đã ủng hộ Trần Trọng Kim. Phạm Quỳnh lui về sống ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường bên bờ sông đào Phủ Cam, Huế.

Bị xử bắn


Cuối tháng 8/1945, thực dân Pháp cho quân nhảy dù tìm cách bắt liên lạc với Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh để đánh chiếm Huế, thiết lập lại chế độ do Pháp thống trị miền Trung Việt Nam. Toán quân nhảy dù Pháp bị du kích địa phương bắt được nên kế hoạch bại lộ, ông bị Việt Minh bắt giam ngày 23 tháng 8 năm 1945 và giam ở lao Thừa Phủ, Huế.

Khi Hồ Chí Minh từ Việt Bắc về Hà Nội, ông nhờ Hoàng Hữu Nam vào Huế để đưa bức thư của ông mời Phạm Quỳnh ra Hà Nội. Tuy nhiên thư này chưa đến tay Phạm Quỳnh thì ông này đã bị dân quân Việt Minh tại Huế xử bắn. Ông xử bắn cùng với nguyên Tổng đốc Quảng Nam Ngô Đình Khôi (anh cùng cha khác mẹ với Ngô Đình Diệm) và Ngô Đình Huân (con trai của Ngô Đình Khôi).

Di hài ông được tìm thấy năm 1956 trong khu rừng Hắc Thú, và được cải táng ngày 9 tháng 2 năm 1956 tại Huế, trong khuôn viên chùa Vạn Phước.

Dư luận

Thông tin về việc ai đã giết ông và nguyên nhân sự việc được lý giải theo nhiều giả thuyết khác nhau.

  • Cuốn Tác gia văn học Thăng Long Hà Nội từ thế kỷ XI đến giữa thế kỷ XX, mục về Phạm Quỳnh (1892-1945) cũng có một dòng: Đến Cách mạng Tháng Tám 1945 chính quyền nhân dân khép án tử hình.
  • Có lệnh cấp tốc di dời Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh ra khỏi Cố đô đề phòng những chuyện bất trắc không hay sau này. Nhóm du kích áp tải đến một quãng rừng cách xa Huế thì nghe tiếng tàu bay Pháp ầm ì trên đầu tưởng đâu như tiếng máy bay thả biệt kích. Sợ không hoàn thành trách nhiệm di dời nên nhóm áp tải đã tự động thủ tiêu cả ba người mà không chờ chỉ thị của cấp trên. Giả thuyết này không đề cập đến cấp trên là ai hay cơ quan nào ra lệnh.
  • Có người cho rằng trong số người đi áp tải đó có người nhà Thượng thư Nguyễn Hữu Bài, người có mối hiềm từ lâu với Phạm Quỳnh nên đã lợi dụng việc này mà giải quyết ân oán.
  • Có nguồn tin, vì Pháp cho biệt kích tìm Phạm Quỳnh nhưng nhóm này bị bắt và để lộ thông tin, và Phạm Quỳnh bị dân quân địa phương (Hiền Sĩ, Thừa Thiên Huế) giết. Nhà văn Thái Vũ lý giải:
Mà lúc ấy trong dân chúng, buổi đầu cách mạng, cũng là trong ngày đầu chính quyền mới do dân làm chủ thì mấy tiếng Việt gian, diệt Việt gian kèm theo hành động lan truyền… khắp mọi nơi, nhất là đối với những người có “thành tích” thân Pháp.
Mà hai cụ họ Phạm và Ngô thì rõ ràng quá, tránh sao lúc trong dân, chỉ mới hưởng 1 ngày đầu chính quyền cách mạng, còn căm thù bọn thống trị Pháp và đám tay chân người bản xứ của chúng, có hành động manh động. Đó hẳn là “nỗi uẩn khúc” cuối cùng của ông chủ báo Nam Phong…

Khi nghe tin Phạm Quỳnh bị xử bắn, Hồ Chí Minh rất bất ngờ, không rõ nguyên nhân tại sao và nói với Tôn Quang Phiệt: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân được gì? Cách mạng được lợi ích gì?… Tôi đã từng gặp cụ Phạm ở Pháp… Đó không phải là người xấu”.

Vụ xử bắn đã được nhiều báo đưa tin ngay sau đó. Báo Cứu quốc của Việt Minh ngày 18/7/1946 đăng: “Khi ra pháp trường, Phạm Quỳnh đã tuyên bố: Tôi vẫn tin tưởng rằng nước Việt Nam phải có một nước như nước Pháp dìu dắt thì mới có thể đi tới văn minh và độc lập được”, và theo báo này: sự thực Phạm Quỳnh trước khi nhận mấy viên đạn kết liễu cái đời phản quốc, đã co rúm người lại không nói được một câu nào. Theo chỗ chúng tôi biết, trong những ngày bị giam, một vài lần Quỳnh có nói… “Tôi vẫn tưởng rằng phải có nước Pháp thì nước Việt Nam mới tiến tới độc lập được. Tôi thật không ngờ nước Việt Nam lại có ngày nay”… có nghĩa là Quỳnh đã phải nhận rằng nước Việt Nam có thể dùng sức mạnh của mình đoạt được chính quyền”… Quỳnh là đại diện cho cái tàn lực của đẳng cấp phong kiến Việt Nam… Phong trào giải phóng Tổ quốc do đại chúng chủ trương càng dâng lên cao, đẳng cấp ấy lại càng bám riết lấy kẻ thù hôm trước để hòng kéo dài những ngày tàn tạ… Dưới cái quyền uy hống hách của đế quốc, lắm lúc họ cũng cảm thấy chua sót cái số kiếp hèn hạ, nhỏ nhen của họ. Nhưng họ biết làm sao khi tinh lực đẳng cấp họ đã khô kiệt!… Quỳnh đã diễn giải sai lầm sự khiếp nhược của mình ra sự khiếp nhược của dân tộc,… Những bài học của sự thật, sự thực đẫm máu của lịch sử, cho đến ngày nay vẫn chưa làm mở mắt nhiều kẻ nhất định ẩn lấp ở trong cái hào lũy thành kiến gây ra bởi những đặc quyền, đặc lợi của đẳng cấp… Họ quan niệm sự vật một cách rất ngây thơ. Họ tưởng những kẻ vẫn nhởn nhơ ở trên thượng tầng xã hội là những kẻ làm cho xã hội tiến hóa. Họ lầm. Những kẻ mà trên trường kinh tế đã trở thành một bày lũ ký sinh chỉ có thể là những chông gai ở trên đường tiến hóa, họ chỉ có thể chờ ngày mà xe tiến hóa nghiến nát họ đi hay gạt họ ra ngoài dìa lịch sử.

Nhân chứng và sự kiện

Tuần báo Quyết Thắng, cơ quan tuyên truyền và tranh đấu của Việt Minh Trung Bộ, Số 11 ra ngày 9-12-1945 đăng toàn văn thông báo của Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương gửi Tòa án quân sự Thuận Hóa như sau:

Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương kính gửi Tòa án quân sự Thuận Hóa

Trước khi Tòa án đưa ra xét xử Việt gian, chúng tôi xin nói về vụ án ba tên Việt gian chúng tôi đã xử trong thời kỳ thiết quân luật để ngài rõ và nhờ ngài công bố cho dân chúng đều biết kết quả một đời phản quốc của chúng.

Án phản quốc

Ba tên Việt gian tối nguy hiểm:

1. Ngô Đình Khôi: Trước làm tay sai cho thực dân Pháp đàn áp phong trào cách mạng ở Quảng Nam và Quảng Ngãi; suốt năm 1938, 39, 40, 41, 42, 43 đã giết hại vô số chiến sĩ cách mạng Việt Nam. Dựa vào thế lực của giặc Pháp, Ngô Đình Khôi lại còn vơ vét tiền của quốc dân, đến lúc Nhật mạnh, lại mưu toan bán nước cho phát xít Nhật, ngấm ngầm phá hoại phong trào độc lập của Mặt trận Việt Minh.

2. Phạm Quỳnh, một tay cộng sự rất đắc lực của giặc Pháp trong việc củng cố địa vị của Pháp ở Đông Dương, đã bao phen làm cho quốc dân phải điêu đứng. Phạm Quỳnh đã giúp sức cho quân cướp nước làm mê muội dân chúng Việt Nam. Với cái nghề mãi quốc cầu vinh, Phạm Quỳnh đã từ một tên viết báo nhảy lên một địa vị cao nhất trong hàng quan lại Nam triều. Phạm Quỳnh lại còn dựa vào thế lực Pháp và địa vị của mình bóc lột, vơ vét tài sản của quốc dân. Mặc dầu chính quyền của giặc Pháp đã bị truất sau ngày đảo chính 9-3-1945, nhiều triệu chứng tỏ rằng Phạm Quỳnh chỉ chờ cơ hội rước bọn thực dân Pháp đến làm cho diệt nước chúng ta.

3. Ngô Đình Huân, một tay cộng sự hết sức lợi hại của phát xít Nhật mới đặt chân đến Đông Dương. Ngô Đình Huân đã giúp Nhật một cách có hiệu lực trong công cuộc quấy rối nước ta và cản trở phong trào độc lập của quốc dân Việt Nam.

Cả ba tên Việt gian đại bợm đã bị bắt ngay trong giờ cướp chính quyền (2 giờ 23-8-1945) ở Thuận Hóa và đã bị Ủy ban Khởi nghĩa kết án tử hình và đã thi hành ngay trong thời kỳ thiết quân luật.

Tài sản và vật dụng của ba tên ấy đều là kết quả của sự phản bội quốc gia, bóc lột dân chúng mà có, nên đều phải bị tịch thu và quốc hữu hóa.

Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương

Về sau, có nguồn tin chính thức mô tả chi tiết sự kiện này: chính phủ De Gaulle cho một phái đoàn quân sự nhảy dù xuống Huế hòng liên lạc với Phạm Quỳnh để chuẩn bị cho kế hoạch đánh chiếm miền trung, nhưng nhóm này chưa gặp Phạm Quỳnh thì đã bị bắt và để lộ thông tin, nên Phạm Quỳnh bị bắt giam tại nhà lao Thừa Phủ cùng Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân rồi sau đó bị Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương (tức tỉnh Thừa Thiên Huế) tuyên án tử hình và xử bắn do bị kết tội làm nội ứng cho Pháp. Theo đó, ngày 25/8/1945, một phái đoàn quân sự Pháp nhảy dù xuống Hiền Sĩ, cách Huế 25 km về phía Bắc. Toán nhảy dù có 6 sĩ quan Pháp do quan tư Casténa chỉ huy. Dân quân Việt Nam bố trí bắt gọn nhóm sĩ quan này, tịch thu vũ khí và tài liệu, gồm có: 6 khẩu súng Các-bin Mỹ, 6 khẩu súng ngắn Browning, 2 điện đài, 2 máy phát điện, 6 túi cá nhân đựng rất nhiều quân trang, đạn dược, 6 cặp sĩ quan đựng bút giấy, tài liệu và rất nhiều bản đồ in trên lụa rất có giá trị. Trong cặp của Casténa có Mật lệnh của Thống chế Pháp là De Gaulle ghi rõ: “Quan tư Casténa có nhiệm vụ bắt liên lạc với Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh, với các lực lượng Pháp ở hải ngoại (FFE) và các lực lượng Pháp nội địa (FFI) để tổ chức chiếm lĩnh các công sở và thành lập chính quyền thuộc địa ở miền Trung Việt Nam.”

Ông Đặng Văn Việt, tham gia lực lượng đi bắt toán biệt kích Pháp, sau này là vị tướng nổi tiếng chiến đấu ở mặt trận Cao Bằng năm 1950, trong hồi ký “Hạ cờ triều đình Huế” có nói về việc chặn đứng kế hoạch của biệt kích Pháp hòng bắt liên lạc với Phạm Quỳnh như sau:

“Không nghi ngờ gì nữa – cái phái bộ Đồng Minh nhảy xuống Hiền Sĩ thực chất là một phái bộ thực dân được De Gaulle phái sang để chiếm lại miền Trung, nếu ta chậm 1 – 2 ngày, Casténa sẽ bắt liên lạc được với Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi, Bảo Đại, chỉ trong một đêm, 500 lính thực dân Pháp đang bị giam ở trường Providence, cộng với lính khố xanh, khố đỏ, khố vàng, với những mật thám cảnh sát cũ còn nguyên vẹn, chúng sẽ đủ sức chiếm lại toàn bộ Kinh đô Huế. Rồi sẽ không có việc Bảo Đại thoái vị, không có lễ nhận ấn tín, không có việc Vĩnh Thụy ra Hà Nội làm cố vấn Chính phủ, mà Huế sẽ lại là Thủ đô của cả nước lúc bấy giờ. Nếu những việc ấy xảy ra, sẽ đều ảnh hưởng đến toàn quốc, Cách mạng sẽ không lường hết sự phải trả giá, xương sẽ chất thành núi, máu sẽ nhuộm đỏ nước sông Hương, cây cỏ trên núi Ngự Bình sẽ xơ xác trong tro bụi?!”.

Khi nhóm bắt biệt kích Pháp về đến Huế, một đại diện Thanh niên Tiền tuyến được cử đến gặp ông Trần Hữu Dực để báo cáo kết quả. Ông Trần Hữu Dực rất vui mừng và hết lời khen ngợi chiến công đó: “Chỉ cần ta bị chậm 1-2 ngày là bọn Pháp nhảy dù xuống Hiền Sĩ có thể liên lạc được với Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh, các lực lượng Pháp ở hải ngoại, ở nội địa. Bọn Pháp 500 tên đang bị giam giữ ở trường Providence, bọn Nhật ở Mang Cá có 4.500 tên. Chỉ cần một đêm là chúng có thể trở lại các công sở, nắm chắc trong tay các lực lượng vũ trang, lực lượng đàn áp phản động. Nếu lúc ấy mà ta phát động tổng khởi nghĩa, cướp chính quyền thì có thể hàng ngàn, vạn sinh mệnh đồng bào sẽ ngã gục dưới họng súng của quân thù. Các anh Thanh niên Tiền tuyến đã lập được một chiến tích lớn đáng được ghi nhớ”.

Di sản


Phạm Quỳnh được coi là người đi tiên phong trong việc dùng tiếng Việt để viết lý luận. Dương Quảng Hàm đánh giá các công trình của ông là đã “luyện cho tiếng ta có thể diễn dịch được các lý thuyết, các ý tưởng về triết học, khoa học mới”. Ông có công biên dịch các tác phẩm tiếng Pháp, giới thiệu các tác phẩm nổi tiếng Đông – Tây đồng thời gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.

Trước đây, cũng có nhiều người cho rằng ông gắn bó với các chủ trương chính trị của thực dân Pháp. Ông bị coi là “ru ngủ” thanh niên trí thức trong cái “hồn nước” mơ hồ, khiến họ đi chệch khỏi chí hướng làm cách mạng chống Pháp. Trong một thời gian dài, quan điểm chính thống của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam gọi ông là tay sai đắc lực của Pháp.

Gần đây, tại Việt Nam bắt đầu có sự đánh giá công bằng hơn. Từ điển Văn học bộ mới (2004) coi ông là người có tinh thần dân tộc, ôm ấp một chủ nghĩa quốc gia theo xu hướng ôn hòa, lấy việc canh tân văn hóa để làm sống lại hồn nước. Kể từ năm 2000, nhiều tác phẩm của Phạm Quỳnh đã được xuất bản tại Việt Nam:

  • Mười ngày ở Huế, Nhà xuất bản Văn học – 2001
  • Luận giải Văn học và Triết học, Nhà xuất bản Thông tin, 2003
  • Pháp du hành trình nhật ký, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, 2004
  • Thượng Chi văn tập, Nhà xuất bản Văn học, 2007
  • Du ký Việt Nam, Nhà xuất bản Trẻ, 2007
  • Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp, Nhà xuất bản Tri thức, 2007 (gồm những bài diễn thuyết, bài báo ông viết bằng tiếng Pháp từ 1922 đến 1932)

Theo nhạc sĩ Phạm Tuyên – con trai của học giả Phạm Quỳnh, vào mùa thu năm 1945, Hồ Chí Minh đã nói với hai người chị của ông là Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức rằng: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này. Con cháu cứ vững tâm đi theo cách mạng”.

Ngày 28 tháng 5 năm 2016, hội đồng họ Phạm Việt Nam phối hợp cùng gia đình nhạc sĩ Phạm Tuyên tổ chức lễ khánh thành công trình trùng tu mộ phần và dựng tượng Phạm Quỳnh tại Thành phố Huế. Bức tượng bán thân Phạm Quỳnh do chính người cháu ngoại của ông là kiến trúc sư Tôn Thất Đại thiết kế với chiều cao 60 cm, bề ngang 50 cm, được đặt ở bục cao gần 2 m nằm ngay sau ngôi mộ ông ở trước chùa Vạn Phước (phường Trường An, Thành phố Huế). Phía trước bia mộ được ốp tấm bia đá đen khắc ghi câu nói nổi tiếng của ông: “Truyện Kiều còn tiếng ta còn. Tiếng ta còn nước ta còn”.

Tác phẩm


Phạm Quỳnh để lại hàng trăm tác phẩm sáng tác, nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật gồm nhiều lĩnh vực như triết học, văn hóa, lịch sử, địa lý, văn học, nghệ thuật, báo chí, trong đó có những tác phẩm chủ yếu như Văn minh luận, Lịch sử thế giới, Chính trị nước Pháp, Văn học sử Pháp, Phật giáo lược khảo, Người quân tử trong đạo Nho, Tục ngữ ca dao, Việt Nam thi ca, Khảo về Truyện Kiều, Khảo về chữ quốc ngữ, Hán Việt văn tự… Về nghiên cứu lý thuyết văn chương, có thể coi Khảo về tiểu thuyết (in rải rác trên báo, mà chủ yếu là Nam Phong, từ năm 1922, in thành sách 1925) là công trình lý luận văn học đầu tiên của nước ta; các tác phẩm Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ, Pháp du hành trình nhật ký là những phóng sự đầu tiên của văn học hiện đại.

Ông là tác giả và dịch giả nhiều bài viết và sách văn học, triết học, cách ngôn, ngụ ngôn, tuồng hát tiếng Pháp dịch ra tiếng Việt và tùy bút. Gần như toàn bộ các tác phẩm của ông đều đăng trên tạp chí Nam Phong. Nhiều bài sau đó in lại thành sách do Đông Kinh ấn quán ở Hà Nội xuất bản.

Các tác phẩm của ông có thể chia làm ba loại:

Dịch thuật

Bao gồm các tác phẩm luận thuyết, phương pháp luận, sách cách ngôn, kịch bản và thơ văn… Ông dịch các đoạn văn và tác phẩm từ tiếng Pháp, chủ yếu thiên về triết học, như triết học của Descartes. Tuy nhiên, ông cũng có dịch một số tác phẩm nghệ thuật như kịch của Corneille.

Khảo luận

Ông nghiên cứu trong các sách chữ Nho, sách tiếng Pháp, và viết lại những bài chuyên khảo bằng tiếng Việt. Có ba ngành ông chú trọng là:

  • Các học thuyết Âu Tây, như trong Văn minh luận, Khảo về chính trị nước Pháp, Lịch sử và học thuyết của Rousseau, Lịch sử và học thuyết của Montesquieu, Lịch sử và học thuyết của Voltaire, v.v…
  • Học thuật Á Đông, những bài về triết học và tôn giáo Á Đông như Phật giáo lược khảo, Cái quan niệm người quân tử trong triết học đạo Khổng, v.v…
  • Văn hóa Việt Nam, với chủ đề trải rộng từ Tục ngữ ca dao, tới Việt Nam thi ca, tới Văn chương trong lối hát ả đào.

Nhiều tác phẩm của ông liên kết những học thuật Âu Tây và phân tích, so sánh chúng với các khái niệm quen thuộc của người Việt Nam. Như trong bài Cái quan niệm người quân tử trong triết học đạo Khổng ông có phần phân tích và so sánh giữa quan niệm người quân tử của đạo Khổng và người “chính nhân” (là chữ ông dùng cho l’honnête homme) trong văn hóa Pháp. Hay như ông có những bài Văn hóa Pháp đối với tiền đồ nước Nam hoặc Công cuộc chấn chỉnh quốc gia ở nước Pháp và khôi phục cổ điển ở nước Nam.

Văn du ký

Ông viết nhiều du ký ghi lại những điều quan sát, nhận định, nghị luận trong các chuyến du lịch đi Pháp và đi các vùng đất Việt Nam như:

  • Mười ngày ở Huế (1918)
  • Một tháng ở Nam Kỳ (1919)
  • Pháp du hành trình nhật ký (1922)

Một số tác phẩm chính

Phạm Quỳnh Cái quan-niệm của người quân-tử trong triết-học Đạo Khổng in năm 1928

  • Văn minh luận
  • Ba tháng ở Paris
  • Văn học nước Pháp
  • Chính trị nước Pháp
  • Khảo về tiểu thuyết
  • Lịch sử thế giới
  • Lịch sử và học thuyết Voltaire
  • Phật giáo đại quan
  • Cái quan niệm của người quân tử trong Đạo Khổng
  • Thượng Chi văn tập gồm 5 quyển, Nhà xuất bản Alexandre de Rhodes Hanoi ấn hành năm 1943.
  • Tục ngữ – Ca dao (1932) – Đông Kinh ấn quán.

Về sách in sau này ở Việt Nam

Sau khi Việt Nam thực hiện Đổi Mới, Phạm Quỳnh được đánh giá lại, các tác phẩm của ông cũng được tái bản. Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2003, tập 3 đã có Mục Phạm Quỳnh, Nam Phong và có cả mục Pháp Việt đề huề với lời lẽ trung lập hơn trước. Năm 2004, Từ Điển Văn Học (bộ mới) của nhà xuất bản Thế Giới có mục Phạm Quỳnh do Nguyễn Huệ Chi viết và mục Nhóm Nam Phong do Phương Chi viết. Năm 2005, báo Khoa học và Ứng dụng số 2 đăng bài Phạm Quỳnh chủ bút báo Nam Phong của Giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam. Cũng trong năm này, Tạp chí Nghiên cứu văn học số tháng 7 năm 2005, đăng bài Phạm Quỳnh và quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX. Cuối năm 2005, báo Tiền Phong Chủ Nhật các số 44, 45 và 46 đăng bài Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong. Tháng 8/2006 tạp chí Công giáo và Dân tộc số 140 đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước. Tháng 9/2006, tạp chí Xưa và Nay số 267, cơ quan của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, đăng bài Người nặng lòng với nước. Tạp chí Nghiên cứu và phát triển ở Huế, số 3 năm 2006 đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nhà. Tháng 9/2006, tạp chí Công giáo và Dân tộc lại đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với tiếng ta. Báo Hồn Việt ngày 15/9/2008 có bài Ông Phạm Quỳnh là người nặng lòng với nước và bài Phạm Quỳnh, cuộc phiêu lưu không tránh khỏi bi đát vào ngày 17/11/2008. Năm 2010, nhà xuất bản Thanh Niên phát hành cuốn Phạm Quỳnh, con người và thời gian của tác giả Khúc Hà Linh. Năm 2012, tác nhà xuất bản Thanh Niên tái bản sách này dưới tên Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc. Năm 2011, nhà xuất bản Công an Nhân dân ấn hành cuốn Phạm Quỳnh, một góc nhìn của một người con xứ Huế của tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan. Sau đó có hai cuộc hội thảo về Phạm Quỳnh ở Hải Dương tháng 6 năm 2010 và Huế vào tháng 8 năm 2012. Năm 2018, Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh tổ chức lễ trao thưởng cho Phạm Quỳnh với những đóng góp về văn hóa của ông đầu thế kỷ 20.

Năm 2001, nhà xuất bản Văn học tác phẩm Mười ngày ở Huế của Phạm Quỳnh. Năm 2003, nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây phát hành tuyển tập tác phẩm của Phạm Quỳnh với nhan đề Phạm Quỳnh – Luận giải văn học và triết học. Năm 2004, nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh. Tháng 3 năm 2007, nhà xuất bản Trẻ phát hành Du ký Việt Nam – Tạp chí Nam Phong 1917-1934. Năm 2006, nhà xuất bản Văn Học và công ty sách Thời Đại cho tái bản cuốn Thượng Chi văn tập của Phạm Quỳnh. Cuối năm 2007, nhà xuất bản Tri Thức cho ra mắt Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 – Essais 1922-1932. Trong năm 2007 có nhiều cuộc thảo luận về Phạm Quỳnh. Năm 2011, nhà xuất bản Hội Nhà Văn và Công ty Nhã Nam xuất bản những bài viết cuối đời của Phạm Quỳnh, bao gồm 11 bài tạp văn và 51 bản ông dịch thơ Đỗ Phủ lấy tên chung là Hoa Đường tùy bút.

Một số tác phẩm của ông đã được tái bản gồm:

  • Mười ngày ở Huế, Nhà xuất bản Văn học – 2001
  • Luận giải Văn học và Triết học, Nhà xuất bản Thông tin, 2001
  • Pháp du hành trình nhật ký, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, 2004
  • Thượng Chi văn tập, Nhà xuất bản Văn học, 2007
  • Du ký Việt Nam, Nhà xuất bản Trẻ, 2007
  • Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp, Nhà xuất bản Tri thức, 2007 (gồm những bài diễn thuyết, bài báo ông viết bằng tiếng Pháp từ 1922 đến 1932)

Ngoài sáu cuốn xuất bản sau này tại Việt Nam thì còn có cuốn Hành trình nhật ký in lần thứ hai tại San Jose, Hoa Kỳ vào năm 2002 (in thành sách lần thứ nhất tại Paris năm 1997) gồm các du ký: Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ và Pháp du hành trình nhật ký.

Câu nói nổi tiếng


Truyện Kiều còn, tiếng ta còn;

Tiếng ta còn, nước ta còn.

— Phạm Quỳnh

Nhận định


  • Hồ Chí Minh:
Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này.
— Hồ Chí Minh
  • Trong báo cáo ngày mồng 8 tháng 1 năm 1945 gửi cho đô đốc Decoux và cho Tổng đại diện Mordant, ông Thống sứ Trung Kỳ Healewyn đã báo cáo về Phạm Quỳnh như sau:
Vị Thượng thư này vốn đã chiến đấu suốt cuộc đời mình bằng ngòi bút và bằng lời nói, không bao giờ bằng vũ khí chống sự bảo trợ của Pháp và cho việc khôi phục quyền hành của Triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung, Nam) và cho việc người Việt Nam nắm trong tay vận mệnh của chính mình… Những yêu sách của Phạm Quỳnh đòi trở lại việc chấp thuận một chế độ tự trị hoàn toàn cho hai xứ bảo hộ (Trung Kỳ và Bắc Kỳ) khước từ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và thành lập một quốc gia Việt Nam. Tôi xin lưu ý ngài một điều là, dưới vẻ bề ngoài nhã nhặn và thận trọng, con người đó là một chiến sĩ không lay chuyển nổi cho nền độc lập của Việt Nam và đừng hòng có thể làm dịu những tình cảm yêu nước chân thành và kiên định của ông ta bằng cách bổ nhiệm ông ta vào một cương vị danh dự hoặc trả lương một cách hậu hĩ. Cho tới nay đó là một địch thủ thận trọng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và ông ta có thể sớm trở thành một kẻ thù không khoan nhượng…
— Thống sứ Trung Kỳ Healewyn
  • Nguyễn Công Hoan:
Phạm Quỳnh, trái lại chủ trương thuyết Lập hiến. Người Pháp nên thi hành đúng Hiệp ước 1884 nghĩa là chỉ đóng vai trò bảo hộ còn công việc trong nước thì để vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy. Bấy giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan không phải vì danh. Quốc dân biết tên Phạm Quỳnh hơn nhiều Thượng thư Nam Triều. Mà cũng chẳng phải vì lợi. Đơn cử làm chủ bút Nam Phong, Phạm Quỳnh được cấp 600 đồng một tháng. Món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ đổi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam Triều đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884. Vậy là một người yêu nước như Phạm Quỳnh sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua là một việc miễn cưỡng trái với ý mình để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn chứ thực lòng một người dân mất nước ai không đau đớn ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ ra được truyện Kép Tư Bền tả một anh kép nổi tiếng về bông lơn đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả mà lên sân khấu nhà hát làm trò cười ngay cái tối cha mình đang hấp hối.
— Nguyễn Công Hoan (Đời viết văn của tôi)
  • Giáo sư Văn Tạo:
Phạm Quỳnh không có hành vi nào tàn ác với nhân dân, không đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân như nhiều quan lại thời Nguyễn, không ra lệnh bắt bớ tù đày các nhà yêu nước (…). Nhưng mặt khác ông lại có công chuyển tải văn hóa Đông – Tây trên văn đàn, báo giới Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm cho ngôn ngữ, văn hóa dân tộc Việt Nam thời đầu thế kỷ XX, công lao đó đáng được ghi nhận.
— Giáo sư Văn Tạo

Gia đình


Ông có một người vợ là bà Lê Thị Vân (1892-1953) và 16 người con (3 người mất từ nhỏ). Trong đó:

  • Người con cả là Phạm Giao (sinh năm Tân Hợi 1911), kết hôn với bà Nguyễn Thị Hy, con gái ông Nguyễn Văn Ngọc (về sau bà Hy kết hôn với ông Trần Huy Liệu), sinh được hai người con, một gái, một trai.
  • Phạm Thị Giá (sinh năm Quý Sửu 1913), vợ của quan Đốc học trường Thăng Long Tôn Thất Bình.
  • Phạm Thị Thức (sinh năm Ất Mão 1915), vợ của Giáo sư Đặng Vũ Hỷ. Hai ông bà có người con trai là Đặng Vũ Minh, Giáo sư Tiến sĩ, Chủ tịch Viện khoa học và Công nghệ Việt Nam.
  • Phạm Bích (nam, sinh năm Mậu Ngọ 1918), Tiến sĩ Luật đã mất ở Thụy Sĩ.
  • Phạm Thị Hảo (sinh năm Canh Thân 1920), vợ Dược sĩ Phùng Ngọc Duy, hiện sống tại Washington D.C., Hoa Kỳ.
  • Phạm Thị Ngoạn (sinh năm Tân Dậu 1921), Tiến sĩ Văn chương, vợ của nhà văn Hán Thu Nguyễn Tiến Lãng.
  • Phạm Khuê (nam, sinh năm Ất Sửu 1925), cố Giáo sư, Nhà giáo nhân dân, nguyên Viện trưởng Viện Lão khoa, nguyên Chủ tịch Hội Người cao tuổi Việt Nam; Đại biểu Quốc hội khóa X.
  • Phạm Thị Hoàn (sinh năm Mậu Thìn 1928), từng là ca sĩ. Chồng bà là nhạc sĩ Lương Ngọc Châu (cháu nội chí sĩ Lương Văn Can), tác giả những ca khúc như Tiếng hát lênh đênh, Một đi không trở về
  • Phạm Tuyên (nam, sinh đầu năm 1930, tuổi Kỷ Tỵ), nhạc sĩ, Chủ tịch Hội Âm nhạc Hà Nội.
  • Phạm Thị Diễm (Giễm) (sinh năm Tân Mùi 1931) định cư tại Pháp.
  • Phạm Thị Lệ (sinh năm Giáp Tuất 1934) định cư tại Pháp.
  • Phạm Tuân (nam, sinh năm Bính Tý 1936) định cư tại Hoa Kỳ.
  • Phạm Thị Viên (sinh năm Mậu Dần 1938) định cư tại Pháp..

Ngày sinh và mất


Về ngày sinh

Theo ông Nguyễn Thọ Dực, Trưởng ban Cổ văn, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa chính quyền Việt Nam Cộng hòa thì hồi làm việc ở triều đình Huế, ông có được Phạm Quỳnh cho biết ngày sinh để nhờ lấy số tử vi là ngày 13 tháng 12 năm Nhâm Thìn, tức ngày 30/1/1893.

Về ngày mất

  • Sách “Từ điển Văn học bộ mới” (2004), ghi mất ngày 20 tháng 8 năm 1945.
  • Một số tài liệu ghi mất ngày 23 tháng 8 năm 1945, đúng ngày có người mời ông đến chính quyền Việt Minh làm việc.
  • Một số tài liệu chép ông mất vào sáng ngày 6 tháng 9 năm 1945 (tức ngày 1 tháng 8 năm Ất Dậu; sau 14 ngày bị Việt Minh bắt).
  • Năm 1956, hai con của Phạm Quỳnh là bà Phạm Thị Hảo (sinh năm 1920) và Phạm Tuân (sinh năm 1936), hiện định cư tại Hoa Kỳ, được theo đoàn tìm mộ cha con Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân, là anh và cháu của Ngô Đình Diệm, để tìm di hài cha. Theo lời các nhân chứng thì Phạm Quỳnh chết vào đêm 6 rạng ngày 7 tháng 9 năm 1945, khoảng 1 giờ sáng, có trăng câu liêm, tức ngày 1 tháng 8 năm Ất Dậu.

Xem thêm


  • Nam Phong tạp chí
  • Bảo Đại
  • Nguyễn Văn Tố
  • Nguyễn Văn Vĩnh

Check Also
Close
Back to top button