Giáo Dục

Soạn văn lớp 6: Đề và dàn ý của bài văn tự sự


Hướng dẫn soạn bài: Đề và dàn ý của bài văn tự sự – Trang 44 SGK Ngữ văn 6 tập 1. Tất cả các câu hỏi trong bài học đều được trả lời rõ ràng, dễ hiểu. Với phần chuẩn bị sau đây, các em sẽ nắm chắc nội dung bài học. Ngoài ra nếu có thắc mắc các bạn comment bên dưới để thầy giải đáp nhé.

Bài giải:

I. Tìm hiểu chủ đề và diễn đàn của bài văn tự sự

Ví dụ: Đọc văn bản ở trang 44 và trả lời các câu hỏi:

Một. Việc Tuệ Tĩnh ưu tiên chữa bệnh cho cậu bé nông dân bị gãy đùi nói gì về phẩm chất người thầy thuốc?

NS. Chủ đề là vấn đề chính, là ý tưởng chính mà người kể muốn thể hiện trong văn bản. Vậy chủ đề của câu chuyện trên có phải là ca ngợi lòng thương người của Tuệ Tĩnh không? Em hãy tìm xem chủ đề của bài được diễn đạt trực tiếp qua những câu nào?

NS. Tiêu đề (title) của tiểu luận thể hiện chủ đề của tiểu luận. Đối với các tiêu đề sau, hãy chọn tiêu đề thích hợp nhất và nêu lý do:

  • Tuệ Tĩnh và hai người bệnh
  • Lòng thương người của thầy Tuệ Tĩnh
  • Thuốc của Tuệ Tĩnh.

Bạn có thể đặt tên khác cho bài viết trên được không?

NS. Các phần mở đầu, thân bài và kết bài trên của một bài văn tự sự phải đáp ứng những yêu cầu nào?

Đáp lại:

Một. Việc Tuệ Tĩnh ưu tiên chữa bệnh cho chàng trai nông dân bị gãy đùi nói lên phẩm chất hết lòng yêu thương, giúp đỡ bệnh nhân của người thầy thuốc => topic.

NS. Chủ đề của truyện trên: Ca ngợi phẩm chất hết lòng yêu thương, giúp đỡ người bệnh của Tuệ Tĩnh.

Câu thể hiện chủ đề: “… .Anh hết lòng thương yêu cứu người bệnh”.

NS. Nhan đề phù hợp với bài trên: Chúng tôi chọn nhan đề đầu tiên trong số ba nhan đề “Danh y Tuệ Tĩnh” – Vì nó nói lên chủ đề của tác phẩm. Đó là thái độ của Tuệ Tĩnh đối với 2 bệnh nhân.

NS. Nhiệm vụ trong truyện:

  • Mở bài: Giới thiệu về nhân vật Tuệ Tĩnh
  • Thân bài: Kể một sự việc thể hiện sự hết lòng của một bác tài giỏi, nhân hậu.
    • Việc quý tộc và nông dân đến xin chữa bệnh.
    • Tuệ Tĩnh quyết định chữa bệnh cho con trai người nông dân vì bệnh tình ngày càng nguy hiểm
    • Vợ chồng bác nông dân tạ ơn Tuệ Tĩnh
  • Kết bài: Nêu việc làm tiếp theo của Tuệ Tĩnh: Tiếp đãi gia đình danh gia vọng tộc.

Ghi nhớ:

  • Chủ đề là vấn đề chính mà người viết muốn đặt ra trong văn bản.
  • Dàn ý là một bài văn tự sự thường gồm ba phần:
    • Mở bài giới thiệu chung về các nhân vật và sự kiện.
    • Phần nội dung của bài báo cho biết những gì đã xảy ra.
    • Kết luận cho biết kết quả của sự kiện.

[Luyện tập] Câu 1: Đọc câu chuyện sau và trả lời các câu hỏi:

GIẢI THƯỞNG

Một người nông dân tìm thấy một viên ngọc trai quý và muốn dâng nó lên nhà vua. Ông vào cung và xin các quan trong triều cho biết cách gặp vua. Một trong những quan chức hỏi anh ta rằng anh ta cần gặp nhà vua để làm gì. Sau đó người nông dân kể câu chuyện muốn tặng viên ngọc quý.

Các quan chức cho biết:

“Được rồi, ta sẽ dẫn ngươi đi gặp đại vương với điều kiện phải cho ta một nửa phần thưởng của bổn vương.” Nếu không, sau đó dừng lại!

Người nông dân đồng ý, và vị quan dẫn anh ta vào cung điện của nhà vua. Nhà vua cầm lấy viên ngọc trai và nói:

“Vậy ngươi muốn ta thưởng ngươi cái gì bây giờ?”

Người nông dân sau đó nói:

“Xin bệ hạ thưởng cho ta năm mươi lạng, ta không muốn gì nữa.” Chỉ là tôi đã đồng ý chia một nửa phần thưởng của cậu với vị quan đã đưa tôi đến đây. Vậy xin Bệ hạ ban thưởng cho mỗi người hai mươi lăm sợi lông mi.

Nhà vua cười, đuổi cận thần ra ngoài và thưởng cho người nông dân một nghìn rúp.

(Lep Ton-Stoi, Vu Van Ton dịch)

Câu hỏi:

Một. Chủ đề của câu chuyện này là gì để tán dương và chế giễu? Các chương trình sự kiện tập trung vào chủ đề nào? Gạch chân câu mô tả nó.

NS. Xác định ba phần: Mở đầu, Thân bài và Kết luận.

NS. Truyện này có gì khác với truyện về Tuệ Tĩnh?

NS. Câu chuyện trong cơ thể thú vị ở chỗ nào?

Đáp lại:

Một. Chủ đề của câu chuyện này là:

    • Ca ngợi: ca ngợi trí thông minh và lòng trung thành của người nông dân.
    • Chế giễu: lòng tham, tin tưởng vào quyền hành của quan đó.
  • Sự việc thể hiện trọng tâm cho chủ đề: người nông dân xin vua ban thưởng 50 lạng và yêu cầu mỗi người chịu một nửa.
  • Câu thể hiện điều này là: Xin hãy thưởng cho tôi năm mươi lạng…

NS. Bố cục ba phần của câu chuyện là:

  • Mở bài: “Một người… dâng vua”.
  • Thân bài: “Hắn ………… ..năm roi”.
  • Kết luận: “Nhà vua …………… .. hàng nghìn rúp”.

NS. Điểm giống nhau về bố cục và điểm khác biệt về chủ đề của truyện này với truyện của Tuệ Tĩnh là:

  • Tương tự:
    • Kể theo trình tự thời gian.
    • 3 phần rõ ràng.
    • Ít hoạt động hơn, nhiều đối thoại hơn.
  • Khác nhau:
    • Truyện Tuệ Tĩnh ca ngợi y đức, phẩm chất của lương y Tuệ Tĩnh
    • Truyện Phần thưởng chế giễu bọn quan lại.
    • Đề tài trong “Tuệ Tĩnh” đã có, “Phần thưởng” nằm trong tính toán của người đọc.
    • Kết thúc bài “Phần thưởng” bất ngờ, thú vị hơn.

NS. Điều thú vị trong phần nội dung của bài viết là:

Nội dung câu chuyện phần thưởng thú vị ở chỗ bác nông dân đưa ra phần thưởng. Nói đến phần thưởng, người ta không thể nghĩ đến việc dùng hình phạt để ban ân. Đó là điểm thú vị. Quan không ngờ người nông dân lại xin được “ân huệ” trừng phạt như vậy. Tình tiết này vừa bất ngờ, vừa tạo kịch tính cho truyện, vừa thể hiện sự thông minh, dí dỏm của nhân vật bác nông dân, đây cũng là sự kiện bộc lộ chủ đề của truyện.

[Luyện tập] Câu 2: Đọc lại các bài Sơn Tinh, Thủy Tinh và Sự tích Hồ Gươm để biết cách mở bài …

Đọc lại các bài Sơn Tinh, Thủy Tinh và Sự tích Hồ Gươm để xem phần mở bài đã giới thiệu rõ câu chuyện sắp diễn ra chưa và kết thúc câu chuyện như thế nào?

Đáp lại:

  • Về phần mở bài: Cả hai bài đều giới thiệu rõ ràng câu chuyện sắp xảy ra, đó là:
    • Chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh: Vua Hùng muốn kén chồng cho con.
    • Sự tích Hồ Gươm: Đức Long Quân quyết định cho mượn gươm thần.
  • Về kết bài: Cả hai bài đều kết thúc câu chuyện:
    • Truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh nhằm giải thích hiện tượng bão lụt theo quan niệm của người Việt cổ: “Từ đó, thù dai, thù sâu, năm nào Thủy Tinh cũng gây mưa, bão, lụt, đánh Sơn. Tinh. Nhưng Thần Nước năm nào cũng mỏi mòn, chán chường vẫn không hạ được Thần Núi để cướp Mị Nương nên đành phải rút quân về ”.
    • Sự tích Hồ Gươm giải thích về nguồn gốc của Hồ Gươm – Hoàn Kiếm: “Vua giơ kiếm về phía Rùa vàng. Nhanh như cắt, Rùa há miệng ngoạm lấy thanh kiếm và lặn xuống nước. Rùa gươm đã chìm xuống đáy nước, người ta vẫn có thể nhìn thấy thứ gì đó le lói dưới mặt hồ xanh biếc. Từ đó, hồ Tả Vọng bắt đầu được gọi là Hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm ”.

.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button