Top List

Top 10 Bài văn phân tích nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “Làng” của Kim Lân (ADS)

Kim Lân (1920 – 2007), tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ông là nhà văn chuyên viết truyện ngắn và đã có sáng tác đăng báo từ trước Cách mạng tháng Tám 1945. Vốn gắn bó và am hiểu thâm thúy cuộc sống đời thường ở nông thôn, Kim Lân hầu như chỉ viết về sinh hoạt làng quê và cảnh ngộ của người nông dân. Năm 2001, ông được tặng phần thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật và thẩm mỹ. Truyện ngắn “Làng” được viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp và đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948. Trong tác phẩm “Làng”, nhân vật ông Hai nổi trội lên với những phẩm chất đáng quý của một người nông dân yêu làng yêu nước. Mời chúng ta xem thêm một số trong những bài văn phân tích nhân vật ông Hai mà can đảm SEO đã tổng hợp trong nội dung bài viết tại đây.

Truyện đã ca tụng tình yêu làng, yêu nước của những con người Việt Nam trong kháng chiến. Tâm trạng của ông Hai cũng là tâm trạng cùa biết bao người nông dân trên mọi nẻo đường của Tổ quốc. Vừa gợi sự thân thuộc vừa gây tuyệt hảo mạnh mẽ và uy lực, để lại cho toàn bộ những người đọc những cảm xúc khó quên.
Là top 3 tiêu chuẩn mà can đảm SEO.vn luôn luôn luôn luôn hướng tới để đem lại những thông tin hữu ích nhất cho xã hội

Bài văn phân tích nhân vật ông Hai số 1

“Làng” ở trong nhà văn Kim Lân là một truyện ngắn rực rỡ về chủ đề tình yêu quê nhà tổ quốc của người nông dân Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp. Nhân vật chính của tác phẩm – ông Hai – chẳng những là một người nông dân chất phác, hồn hậu như bao người nông dân khác mà còn là một người có tình yêu làng quê, tổ quốc thật đặc trưng.

Tác phẩm xây dựng và hoạt động năm 1948 lấy bối cảnh là cuộc tản cư kháng chiến của nhân dân ông Hai là người dân làng Chợ Dầu nhưng để phục vụ kháng chiến ông cùng mái ấm gia đình tản cư đến một nơi khác. Chính tại nơi đây ông luôn luôn trăn trở về cái làng thân yêu của tôi với bao tình cảm, suy nghĩ vô cùng cảm động…

Trước hết, ông là một người nông dân chất phác, nồng hậu, chân chất… như bao người nông dân khác. Đến nơi tản cư mới, ông thường đến nhà hàng quán ăn xóm để cởi mở giãi bày những suy nghĩ tình cảm của tôi về cái làng Chợ Dầu thân yêu, về cuộc kháng chiến của dân tộc. Ông đi nghe báo, ông đi nghe rỉ tai, ông buôn chuyện về những sự kiện nổi trội của cuộc kháng chiến… Ông Hai không biết chữ, ông rất ghét những anh nào “ra vẻ ta đây” biết chữ lướt web đọc báo mà chỉ đọc thầm không đọc to lên cho toàn bộ những người khác còn biết. Ông ít học nhưng lại rất thích nói chữ, đi đính chính tin làng mình theo giặc ông sung sướng nói to với mọi người: “Toàn là sai sự mục đích cả!”…. toàn bộ những điều đó không làm ông Hai xấu đi trong mắt người đọc mà chỉ càng khiến cho ông dễ thương và đáng yêu, đáng mến hơn.

không chỉ là vậy, điều đáng quý nhất ở ông Hai đó là tấm lòng yêu làng tha thiết. Và biểu lộ của tấm lòng ấy cũng thật đặc trưng. Cái làng so với người nông dân quan trọng lắm. Nó là ngôi nhà chung cho xã hội, họ mạc. Đời này qua đời khác, người nông dân gắn bó với cái làng như máu thịt, ruột rà. Nó là nhà cửa, đất đai, là tổ tiên, là hiện thân cho tổ quốc so với họ. Trước Cách mạng tháng Tám, ông Hai thuộc loại “khố rách nát áo ôm”, từng bị “bọn hương lí trong làng truất ngôi trừ ngoại xiêu dạt đi, lang thang hết nơi này đến nơi khác, lần mò vào đến tận đất thành phố sài gòn, Chợ Lớn kiếm ăn. Ba chìm bảy nổi mười mấy năm trời mới lại được trở về quê nhà phiên bản quán. Nên ông thấm thía lắm cái cảnh tha hương cầu thực.

Ông yêu cái làng của tôi như đứa con yêu mẹ, tự hào về mẹ, tôn thờ mẹ, một tình yêu hồn nhiên như trẻ thơ. Cứ xem cái cách ông Hai náo nức, say mê khoe về làng mình thì sẽ thấy. Trước Cách mạng tháng Tám, ông khoe cái dinh phần của viên tổng đốc làng ông: “Chết! Chết, tôi chưa thấy cái dinh cơ nào và lại được như cái dinh cơ cụ thượng làng tôi.”. Và tuy vậy chẳng họ hàng gì nhưng ông cứ gọi viên tổng đốc là “cụ tôi” một cách rất hả hê! Sau Cách mạng, “người ta không thể thấy ông đả động gì đến cái lăng ấy nữa”, vì ông nhặn thức được nó làm khổ mình, làm khổ mọi người, là quân thù cùa cả làng: “Xây cái lăng ấy cả làng phục dịch, cả làng gánh gạch, đập đá, làm phu hồ cho nó. […] Cái chân ông đi tập tễnh cũng vì cái lăng ấy” lúc này ông khoe làng ông khởi nghĩa, khoe “ông gia nhập trào lưu từ hồi kì còn trong bóng tối”, rồi những buối tập quân sự, khoe những hố, những ụ, những giao thông hào cùa làng ông,…

Cũng vì yêu làng quá như vậy mà ông nhất quyết không chịu rời làng đi tản cư. Đến khi buộc phải cùng mái ấm gia đình đi tản cư ông buồn khổ lắm, sinh ra hay tức bực, “ít nói, ít cười, cái mặt lúc nào thì cũng lầm lầm . Ở nơi tản cư, ông nhớ cái làng của ông, nhớ những ngày thao tác cùng với đồng đội: sao mà độ ấy vui thế. Ông thấy mình như trẻ ra.[…] trong tâm địa ông lão lại thấy náo nức hẳn lên.”. Lúc này, thú vui của ông chỉ là mỗi ngày đi nghe tin tức thời sự kháng chiến và khoe về cái làng Chợ Dầu của ông đánh Tây.

Ông lão đang náo nức, “ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá!” vì những tin kháng chiến thì biến cố bất thần xảy ra. Một người thiếu nữ tản cư vừa cho con bú vừa ngấm nguýt khi nhắc đến làng Dầu. Cô ta cho thấy làng Dầu đã theo giặc chẳng “tinh thần” gì đâu. Ông Hai nhận cái tin ấy như bị sét đánh ngang tai. Càng yêu làng, hãnh diện tự hào về làng bao nhiêu thì lúc này ông Hai lại càng thấy đau đớn, tủi hổ bấy nhiêu. Nhà văn Kim Lân đã chứng tỏ bút lực dồi dào, kĩ năng phân tích tinh xảo, tái hiện sinh động trạng thái tình cảm, hành vi của con người khi miêu tả diễn biến tâm trạng và hành vi của nhân vật ông Hai trong biến cố này.

Cái tin làng Chợ Dầu theo giặc đã làm ông điếng người: “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tường như đến không thở được. Một lúc lâu ông mới rặng è è, nuốt một chiếc gì vướng ở cổ […] giọng lạc hẳn đi”, “ông Hai cúi gằm mặt xuống mà đi” và nghĩ đến sự dè bỉu của bà chủ nhà. Ông lão như vừa bị mất một chiếc gì quý giá, thiêng liêng lắm. Những câu văn diễn tả tâm trạng thật xúc động: “Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ tràn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy? Chúng nó cũng trở nên người ta rẻ rúng hắt hủi đấy? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu…”. Nỗi nhục nhã, mặc cảm phản bội hành hạ ông lão đến khổ sở: ”Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt gian! Rồi đây biết làm ăn buôn xuất kho sao? Ai người ta chứa. Ai người ta marketing mấy.

Suốt cả cái nước Việt Nam này người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống Việt gian bán nước…”. Cả nhà ông Hai sống trong bầu không khí ảm đạm: “Gian nhà lặng đi, hiu hắt, ánh lửa vàng nhờ nhờ ở ngọn đèn dầu lạc vờn trên nét mặt lo âu của bà lão. Tiếng thở của ba đứa trẻ chụm đầu vào nhau ngủ nhẹ nhàng nổi lên, nghe như tiếng thở của gian nhà.” ông Hai ăn không ngon, ngủ không yên, lúc nào thì cũng nơm nớp, bất ổn trong nỗi tủi nhục ê chề. Thậm chí ông không dám nhắc tới, phải gọi tên cái chuyện phản bội là “chuyện ấy”. Ông tuyệt giao với toàn bộ mọi người, “không dám bước đi ra đến ngoài” vì xấu hổ. Và cái chuyện vợ ông chồng ông lo nhất cũng đã đi đến. Bà chủ nhà bóng gió đuổi mái ấm gia đình ông, chỉ vì họ là người của làng theo Tây. mái ấm gia đình ông Hai ở vào tình thế căng thẳng. Ông Hai phải đương đầu với tình cảnh khó khăn nhất: “Thật là tuyệt đường sinh sống! [..] đâu đâu có người Chợ Dầu người ta cũng đuổi như đuổi hủi. Mà cho dẫu vì chính sách của Cụ Hồ người ta chẳng đuổi đi nữa, thì mình cũng chẳng còn mặt mũi nào đi đến đâu.”.

Từ chỗ yêu tha thiết cái làng của tôi, ông Hai đâm ra thù làng: “Về làm gì cái làng ấy nữa. Chúng nó theo Tây cả rồi. Về làng tức là bỏ kháng chiến. Bỏ Cụ Hồ… Và “nước mắt ông giàn ra”. Ông lại nghĩ đến cảnh sống nô lệ tăm tối, lầm than trước kia. Bao nỗi niềm của ông không biết giãi bày cùng ai đành trút cả vào những lời trò chuyện cùng đứa con thơ dại:

Hức kia! Thầy hỏi con nhé, con là con của ai?

Là con thầy mấy lị con u.

Thế nhà con ở đâu?

Nhà ta ở làng Chợ Dầu.

Thế con có thích về làng Chợ Dầu không?

Thằng nhỏ xíu nhỏ nép đẩu vào ngực bố vấn đáp khe khẽ:

Có.

Ông Lão ôm khít thằng nhỏ xíu nhỏ vào lòng, một lúc lâu lại hỏi:

À, thầy hỏi con nhé. Thế con ủng hộ ai?

Thằng nhỏ xíu nhỏ giơ tay lên, mạnh bạo và rành rọt:

ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!

Nước mắt ông lão giàn ra, chảy ròng ròng trên hai má. Ông nói thủ thỉ:

ừ đúng rồi, ủng hộ Cụ Hồ con nhỉ.

Những lời đáp của con trẻ cũng là tâm huyết, gan ruột của ông Hai, một người lấy danh dự của làng quê làm danh dự của chính mình, một người son sắt một lòng với kháng chiến, với Cụ Hồ. Những lời thốt ra từ miệng con trẻ như minh oan cho ông, chân thành và thiêng liêng như lời thề đinh ninh vang lên từ đáy lòng ông:

“đồng đội đồng chí biết cho bố con ông

Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông.

Cái lòng bố con ông là như vậy đấy, có khi nào dám đơn sai. Chết thì chết có khi nào dám đơn sai” Nhà văn đã nhìn thấy những nét đáng trân trọng bên trong người nông dân chân lấm tay bùn. Nhân vật ông Hai hiện ra chân thực từ cái tính hay khoe làng, thích nói về làng bất kể người nghe có thích hay là không; chân thực ở đặc điếm tâm lí vì xã hội, vui cái vui của làng, buồn cái buồn của làng và chân thực ở những diễn biến của trạng thái tâm lí hết sức đặc trư­ng của một người nông dân tủi nhục, đau đớn vì cái tin làng mình phản bội.

Nếu như trong biến cố ấy tâm trạng cùa ông Hai đau đớn, tủi cực bao nhiêu thì khi vỡ lẽ ra rằng đó chỉ là tin đồn không đúng, làng Chợ Dầu của ông không hề theo giặc, sự vui sướng càng tưng bừng, hả hê bấy nhiêu. Ỏng Hai như người vừa được hồi sinh. Một lần nữa, những thay đối cùa trạng thái tâm lí lại được khắc hoạ sinh động, tài tình: “Cái mặt buồn thiu mọi ngày bỗng vui tươi, rạng rỡ hẳn lên. Mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ hấp háy…”. Ông khoe khắp nơi: “Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ Đốt nhẵn![…] Láo! Láo hết! Toàn là sai sự mục đích cả., “Tây nó đốt nhà tôi rồi ông chủ ậ. Đốt nhẵn.[… ] Ra láo! Láo hết, chẳng có gì sất. Toàn là sai sự mục đích cả!”. Đáng lẽ ra ông phải buồn vì cái tin ấy chứ? Nhưng ông đang tràn ngập trong thú vui vì thoát khỏi cái ách “người làng Việt gian” Cái tin ấy xác nhận làng ông vẫn nhất quyết đứng về phía kháng chiến. Cái tin ấy khiến cho ông lại được sống như một tình nhân nước, lại rất có thể tiếp tục sự khoe khoang dễ thương và đáng yêu của tôi,… xích míc mà vẫn hết sức phải chăng, điểm này cũng là sự việc tinh xảo, rất dị của ngòi bút miêu tả tâm lí nhân vật ở trong nhà văn Kim Lân.

Người đọc sẽ không còn thể quên được một ông Hai quá yêu cái làng của tôi như vậy. Lúc ông nói thành lời hay khi ông nghĩ, người đọc vẫn nhận thấy rất rõ tính chất ngôn từ của vùng quê Bắc Bộ, của một làng Bắc Bộ: “Nắng này là bỏ mẹ chúng nó”, “không đọc thành tiếng cho toàn bộ những người khác nghe nhờ mấy”, “Thì vườn”, “có khi nào dám đơn sai”,… nhất là nhà văn cố ý thể hiện những từ ngữ dùng sai trong lúc quá hưng phấn của ông Hai. Những từ ngữ “sai sự mục đích cả” là dấu ấn ngôn từ của người nông dân ở thời điểm nhận thức đang chuyển biến, muốn nói cái mới nhưng từ ngữ chưa hiếu hết. Sự sinh động, chân thực, thú vị của mẩu chuyện phẩn nào thì cũng nhờ vào tính chất ngôn từ này. Trong tác phẩm, nhà văn cũng thể hiện rõ sự thông hiểu về lề thói, phong tục của làng quê. Kim Lân đả vận dụng những hiểu biết đó hết sức khôn khéo vào việc xáy dựng tâm lí, hành dộng, ngôn từ nhân vật. diễn biến giản dị, sức nặng lại dồn cả vào mạch diễn biến tâm trạng, vào lời thoại của nhân vật nên mẩu chuyện có sức mê hoặc riêng, tuyệt hảo riêng, rất dị.

Tình yêu làng của ông Hai không giản dị, hẹp hòi là tình yêu chỉ riêng so với nơi ông sinh ra và lớn lên. Ê-ren-bua từng tâm đắc: “Tình yêu làng xóm trở nên tình yêu quê nhà tổ quốc”. Và vì thế, tình yêu làng của ông Hai gắn bó nghiêm ngặt với tình yêu nước với tinh thần kháng chiến đang lên rất cao của cả dân tộc. Đó cũng đó là biểu lộ chung của tình yêu tổ quốc của người nông dân Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp.

Trong số rất nhiều những nhân vật nông dân khác, người đọc khó rất có thể quên một ông Hai yêu làng quê, yêu tổ quốc, thuỷ chung với kháng chiến, với sự nghiệp chung của dân tộc. Một ông Hai thích khoe làng, một ông Hai sốt sắng nghe tin tức chính trị, một ông Hai tủi nhục, đau đớn khi nghe đến tin làng mình theo giặc, một ông Hai vui mừng như trẻ thơ khi biết tin làng mình không theo giặc,… Ai đó đã một lần thấy nhà vàn Kim Lân, nghe ông rỉ tai còn thú vị hơn thế nữa: hình như ta gặp ông đâu đó trong Làng rồi thì phải.

Ông Hai là một nhân vật rất dị mang nhiều đặc điếm chung tiêu biểu cho toàn bộ những người nông dân Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp nhưng đồng thời cũng mang những tính chất tính cách rất riêng, rất thú vị. Ông đang trở thành linh hồn của Làng và thể hiện trọn vẹn tư tưởng ở trong nhà văn và tác phẩm.

Hình ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích nhân vật ông Hai số 2

Kim Lân là nhà văn rất am hiểu cuộc sống đời thường của người nông dân ở nông thôn miền Bắc. toàn bộ những truyện của ông đều xoay quanh cảnh ngộ và sinh hoạt của người nông dân. Truyện “Làng” được Kim Lân sáng tác trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp và đăng trên tạp chí Văn nghệ năm 1948. Nhân vật đó là ông Hai người làng chợ Dầu. Tác giả đã miêu tả khá thành công diễn biến tâm trạng của ông khi nghe đến tin đồn làng ông theo giặc. Qua đó, tác giả muốn ca tụng tinh thần yêu nước của ông nói riêng và của người dân Việt Nam nói chung.

Ông Hai là người rất tự hào về cái làng chợ Dầu của tôi. Khi phải di tản cư ông cứ nhắc đi nhắc lại với những người chung quanh cái không khí cách mạng của làng ông: “Cả giới phụ lão có cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập một hai…”. Cứ như vậy, suốt cả buổi tối, ông lão ngồi vén quần lên tận bẹn mà nói liên miên về cái làng của ông. Ông nói cho sướng miệng và tạo cho đỡ nhớ làng chứ không lưu ý người khác có nghe không ? Sau những giây phút thao tác mệt nhọc, nằm gác tay lên trán, ông lại nghĩ về làng.

Ông cứ muốn về làng, muốn được “cùng mọi người đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá…”. Vì quá yêu, quá tự hào về cái làng của ông mà ông “nghẹn đắng hẳn lại, da mặt tê rân rân”, “chết lặng đi tưởng như không thở được” khi nghe đến tin cả làng mình theo Việt gian! Lúc đầu ông không thể tin, ông hỏi đi, hỏi lại “giọng ông như lạc hẳn”: “Liệu có thật không hở bác. Khi có người quả quyết vì ra ở dưới ấy lên và nói chắc như đinh đóng cột ở làng ông “Việt gian từ thằng quản trị mà đi”…, thì ông Hai không thể nghe thêm được nữa.

Ông đánh trống lảng rồi đi thẳng. Văng vẳng bên tai ông tiếng người thiếu nữ cho con bú: “phụ thân mẹ tiên sư chúng nó ! Đói khổ ăn cắp, ăn trộm bắt được người ta còn thương. Còn giống Việt gian bán nước thì cứ cho từng đứa một nhát !”. Những lời nói ấy như những nhát dao chém vào ông, tim ông se thắt lại. Bao nhiêu thắc mắc giằng xé trong ông. Tức quá, ông nắm chặt hai tay lại mà rít lên: “Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi thao tác cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thể này!”… Rồi ông nghĩ lại “chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế được, ông kiểm điểm từng người trong óc. Không mà, họ toàn là những người có tinh thần cả. Trong ông đang tung ra sự giằng xé. Nửa tin, nửa ngờ.

Đêm đó, ông Hai không sao ngủ được, “ông hết trở mình bên nó lại trở mình bên kia, thở dài”. Khi mụ chủ nhà nói xa nói gần không chứa chấp người làng làm Việt gian, ông lão ngồi lặng đi. Bao nhiêu ý nghĩ đen tối, ghê rợn nối tiếp bời bời trong đầu ông, ông định trở lại làng. Vừa chớm nghĩ như vậy, lập tức ống phản đối ngay: “Về làm gì cái làng ấy nữa. Chúng nó Theo Tây cá rồi, về làng tức từ bỏ kháng chiến”. Nghĩ vậy nước mắt ông giàn dụa. Nhớ lại thuở xưa – thuở cuộc đời đen tối, lầm than, ông “rợn toàn bộ khung hình”… Chỉ chừng ấy rõ ràng. Kim Lân đã cho toàn bộ những người đọc hiểu tình cảm của ông Hai so với Cách mạng, so với tổ quốc ra làm sao. Nếu không yêu nước, không tin tưởng vào Cách mạng làm sao ông uất nghẹn, đau khổ đến như vậy.

Và cũng chính điều này mà ông đã mừng rơn lên khi biết đích xác những lời kia chỉ là sự việc đồn đại láo toét. Ông đi tìm bác Thứ để thanh minh: “Chính cái tin làng chợ Dầu công ty chúng tôi đi Việt gian ấy mà. Láo ! Láo hết! Toàn là sai sự mục đích cả ” Ông cứ lặp đi lặp lại câu “láo hết, toàn là sai sự mục đích cả”, ông Hai còn múa tay lên mà khoe tin ấy với mọi nguời… Và tối hôm ấy, ông lại sang bên nhà bác Thứ, lại ngồi trồn chiếc chõng tre, vén quần lên tận bẹn mà nói chuvẹn về cái làng của ông… Kim Lân đã chọn được một trường hợp khá rất dị. Cách thể hiện lòng yêu nước ở trong nhà văn cũng đều phải sở hữu nét riêng không giống với bất kể nhà văn nào cùng thời.

nói theo cách khác “Làng” là một truyện ngắn khá hay. Thành công lớn nhất về mặt nghệ thuật và thẩm mỹ là kĩ năng miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật. Đoạn ông Hai nghe tin đồn làng ông làm Việt gian đã thể hiện tài năng miêu tả tâm lí nhân vật của Kim Lân. trải qua nhân vật ông Hai, tác giả muốn ca tụng tình yêu quê nhà, tình yêu tổ quốc, sự giác ngộ cách mạng của những người nông dân hiền lành, chất phác. Chính tình yêu quê nhà tổ quốc, ý thức giác ngộ cách mạng ấy mà người ta một lòng theo Đảng, theo Cách mạng, đứng lên giành quyền sống, giữ vững nền dộc lập tự chủ của dân tộc trước mọi nguy hiểm, thử thách.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Hình ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích nhân vật ông Hai số 3

Kim Lân là một nhà văn có sở trường về mảng đề tài cuộc sống đời thường của con người ở nông thôn thôn Việt Nam. Theo Nguyên Hồng thì đó là một nhà văn “1 lòng đi về với đất, với người, với thuần hậu nguyên thủy” của cuộc sống đời thường, con người ở thôn quê. Nhà văn Kim Lân đã viết thành công tác phẩm Làng ở giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám. Tác phẩm đã gợi nhiều suy nghĩ cho toàn bộ những người đọc về những chuyển biến mới trong tình cảm của người dân Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Đặt biệt là nhân vật ông Hai với tình yêu làng và tình yêu nước thâm thúy.

Làng là một tác phẩm xây dựng và hoạt động vào đầu những năm kháng chiến chống Pháp. Chuyện có kết thúc giản dị, xoay quanh nhân vật ông Hai với những tình cảm của ông về làng Chợ Dầu của tôi. Ông Hai đang trở thành một hình tượng tiêu biểu cho toàn bộ những người nông dân Việt Nam trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp.

Trước Cách mạng tháng Tám, mỗi một khi kể về làng của ông, ông chỉ khoe và tự hào về cái sinh phần ở cuối làng của Viên Thống Đốc làng mình cho dù chính phiên bản thân ông và nhiều người đã phải khổ tâm về cái sinh phần ấy. Nhưng sau khoản thời hạn Cách mạng tháng Tám thành công, ông lại có suy nghĩ và nhận thức khác về làng mình. Ông không thể khoe cái sinh phần ấy nữa mà ông lại đi khoe rằng làng mình là một làng kháng chiến, từ cụ già đến trẻ con đều là những người có tinh thần chiến đấu.

Ông Hai rất yêu làng mình nhưng theo lệnh của cụ Hồ, ông phải xa làng đi tản cư ở một nơi khác. Ông buồn lắm và ông đã tự an ủi mình rằng “đi tản cư cũng là đi kháng chiến”. Nhưng ông lòng ông luôn luôn day dứt vì nhớ làng và những đồng đội ở lại làng. Những lúc nhớ làng, “ông lại muốn về làng, lại muốn được cùng đồng đội đào đường đắp ụ, xẻ hào, khuân đá”. Hằng ngày, ông thường đến phòng thônng tin để nghe tin tức kháng chiến. Ruột gan ông “cứ múa cả lên” vì phấn khởi khi nghe đến được tin:” Một em nhỏ trong ban tuyên truyền xung phong bơi ra giữa hồ Hoàng Kiếm cắm quốc kì lên Tháp Rùa”. Và tin: “Một anh trung đội trưởng sau khoản thời hạn giết được bảy tên giặc đã tự sát bàng một quả lựu đạn sau cuối”. Chắc hẵn chính tình yêu nước đã làm ông cám thấy vui khi nghe đến mấy tin ấy.

Ông buồn khổ, tủi nhục và bàng hoàng khi nghe đến tin làng Chợ Dầu của ông theo giặc: “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như không thở được”. Mấy ngày liền ông không dám ra đường vì xấu hổ: “Ông Hai nằm vật ra giường”; “nước mắt ông lão cứ giàn ra”; “tâm trạng ông đầy giằng xé”; ” bao nhiêu ý nghĩ đen tối ghê rợn nối tiếp, bời bời trong đầu óc ông lão. Biết đem nhau đi đâu lúc này?”. có những lúc ông đã nghĩ sẽ trở về làng nhưng “về gì cái làng ấy nữa, chúng nó theo giặc cả rồi”. Nhưng ông đã kiên quyết ” làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Ông chỉ biết tâm sự với đứa đàn ông nhỏ xíu nhỏ bỏng của ông để vơi bớt buồn khổ và xác định tấm lòng của tôi so với kháng chiến, so với cụ Hồ.

Ông càng buồn khổ bao nhiêu, ông càng sung sướng bấy nhiêu khi nghe đến tin làng ông được cải chính. Ông chạy khắp xóm, gặp ai là khoe rằng giặc Tây đốt nhà của ông. Đó là một minh chứng xác thực cho làng Chợ Dầu của ông không theo giặc: “Bác Thứ đâu rồi? Bác Thứ làm nào đấy? Tây nó đốt nhà tôi rồi bác a. Đốt nhẵn!…Toàn sai sự mục đích cả”. Nói xong ông lại đi nơi khá để bào cho nhiều người biết về cái tin ấy. Mọi thú vui, niềm tin của ông Hai không chỉ là bó hẹp trong sự bình yên của phiên bản thân và mái ấm gia đình mà toàn bộ mọi người đều thấy được điều đó.

Nhân vật ông Hai là một người nông dân với toàn bộ sự chân chất, mộc mạc đã bước vào trang sách của Kim Lân, để lại nhiều tình cảm đẹp trong tâm hồn người đọc một sự yêu mến, sự trân trọng và cảm phục. Qua đó, ta thấy được những biểu lộ rõ ràng về tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong những cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm.

Qua tác phẩm Làng, nhà văn Kim Lân đã thành công trong việc thay đổi trong nhận thức và tình cảm của người nông dân Việt Nam trong giai đoạn chống Pháp. Một người nông dân chuyên cần, chân chất, thà hi sinh toàn bộ chứ nhất định không chịu khuất thân với giặc. Đó đó là vẻ đẹp của tình yêu nước sâu thẳm của nhân vật ông Hai. Đáng cho chúng ta trân trọng.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Hình ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích nhân vật ông Hai số 4

Khắc họa hình Hình ảnh những người nông dân trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nhà văn Kim Lân đã thể hiện thật rõ ràng hình tượng đó qua nhân vật ông Hai qua tác phẩm Làng. Truyện ngắn để lại tuyệt hảo thâm thúy cho toàn bộ những người đọc về một nông dân chất phát, yêu mến và gắn bó với quê nhà bằng một tình yêu tha thiết.

Tác phẩm xây dựng và hoạt động từ thời điểm năm 1948, bối cảnh là cuộc tản cư kháng chiến chống thực dân Pháp. Ông Hai trong tác phẩm là một người nông dân người làng chợ Dầu, cùng mái ấm gia đình đi tản cư để phục vụ kháng chiến như vậy. tuy vậy phải rời xa quê nhà nhưng ông luôn luôn trăn trở, nhớ nhung về cái làng của tôi với bao sự lưu luyến.

Tình yêu của ông so với cái làng Chợ Dầu được thể hiện bằng việc ông hay say mê kể về cái Làng của tôi. Trước cuộc kháng chiến ông khoe về cái dinh phần của viên quản đốc làng ông: “Chết! Chết!, tôi chưa thấy cái dinh cơ nào và lại được như cái dinh cơ của cụ thượng làng tôi”. tuy vậy, ông chẳng có họ hàng thân thích gì với nhà viên quản đốc nhưng ông vẫn gọi là “cụ” một cách rất hả hê. Nhưng khi kháng chiến chống Pháp bùng nổ, làng ông được giải phóng, người ta không thấy ông nhắc tới cái lăng đó nữa. Bởi trong ông đã sự thay đổi về nhận thức, ông nhận thức được “cái lăng” đó làm cho toàn bộ làng ông khổ, chẳng thế mà “Xây cái lăng ấy cả làng phục dịch, cả làng gánh gạch, đập đá, làm phu hồ cho nó…”, cũng vì nó mà chân ông bị tật. Từ niềm tự hào, niềm hãnh diện, lúc này ông thù nó, chính vì nó là quân thù của cả làng, nó làm cho thấy bao người phải bỏ mạng…… lúc này, ông khoe làng ông được giải phóng, ông được tham gia vào kháng chiến “từ thơi còn trong bóng tối”, những nhà ngói san sát, đường lát toàn đá xanh………..

Ở nơi tản cư, điều khiến cho ông sung sướng nhất là được khoe về cái làng của tôi, dường như so với ông trong cuộc sống đời thường chẳng còn điều gì khác thú vị nữa, ông chằng bận tâm tới ngẫu nhiên điều gì khác ngoài những tin tức về cái làng của tôi “ở nơi tản cư, ông nhớ cái làng của ông, nhớ những ngày được thao tác cùng với đồng đội, sao mà độ ấy vui thế. Ông thấy mình như trẻ ra..”. trong tâm địa ông lão lại náo nức cả lên. Lúc này, thú vui nhất của ông là được nghe những tin tức về cái Làng của tôi. Hình Hình ảnh ông Hai hiện lên thật dễ thương và đáng yêu, ông ghét những người biết chữ, ra vẻ ta đây, lướt web đọc báo mà chỉ đọc có một mình, không đọc to lên cho toàn bộ mọi người cùng nghe.

Tác giả tạo ra trường hợp tản cư, hình Hình ảnh ông Hai hiện lên mang không thiếu với những phẩm chất quý báu của những người nông dân Việt Nam hiền lành, chịu thương chịu khó. so với ông, đi tản cứ âu cũng là kháng chiến, ở nơi tản cư ông làm toàn bộ mọi việc, từ cuộc đất trồng rau, chăm sóc bọn trẻ con……. Hình Hình ảnh ông vừa là hình Hình ảnh đậm màu nông dân với “Ruộng rẫy là mặt trận, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sỹ”. Nỗi nhớ về quê nhà của ông cứ chống chất, ông nhớ, ông đem làng ra kể cho cái nhớ ấy vơi bớt… ông nghe ngóng nó qua báo đài, qua những người tản cư.

Ông Hai đau đớn nghe tin làng mình theo giặc. Cái tin “làng Chợ Dầu theo giặc” mà ông nghe được của một người thiếu nữ tản cư làm ông lão cảm thấy choáng vàng, như tiếng sét giữa trời quang. “Cổ ông lão nghẹn đắng lại, giọng ông lạc hẳn đi, da mặt tê rân rân. Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt một chiếc gì vướng ở cổ…”. Ông cúi gằm mặt xuống mà đi, Ông nghĩ đến sự khinh ghét của bà chủ nà, của bà con lối xóm “rồi đây ai người ta chứa, ai người ta marketing mấy”. Tâm trạng ông lão như vừa mất đi thứ gì thiêng liêng lắm. Ông luôn luôn tự hào về quê nhà mình, luôn luôn khoe làng mình như một ví dụ điển hình nổi bật cho đấu tranh giải phóng, chống giặc.

Vậy mà giờ đây, ông lại phải nghe tin làng mình theo giặc, không giấu nổi sự nhục nhã ông vờ đứng rồi lảng ra chỗ khác, cúi gằm mặt xuống mà đi. Về tới nhà, ông nằm vật ra giường, dường sự bao niềm tin, bao tự hào của ông đều sụp đổ, nước mắt ông giàn ra. Nhà văn Kim Lân diễn ta tâm trạng của ông Hai thật xúc động. “Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ tràn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng trở nên người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu?. …”. Đau đơn, tủi hổ, nếu như ông không yêu làng đến thế, không tự hào như vậy, thì giờ đây khi nghe đến tin dữ ông dường như không cảm thấy ê chề như vậy. Khổ thân ông lão vốn xởi lởi, vui tính, thuở đầu ông nghi ngại, ông tự hỏi lòng mình, trong đầu ông điểm lại những nhân vật trong làng “Mà thằng chánh Bệu đích thực là người làng rồi.

Dường như, ông không thể gật đầu đồng ý nổi cái tin đó, ông đâu tranh nội tâm một cách giữ dội nhưng rồi sau cuối phải gật đầu đồng ý nó với những minh chứng rõ ràng. Sự đáu đớn đến tột cùng, có lẽ nếu như phải nghe tin làng bị cháy rụi hạy bị giặc đốt phá có lẽ ông lão không cảm thấy xót xa như lúc này. Có lẽ, so với ông đấy là điều tủi hổ nhất “Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt gian”. Những lời đó như được xuất phát từ trái tim ông, cả đời ông có lẽ chưa khi nào phải chịu cảnh tủi nhục như vậy, nó được cất lên từ một niềm tin trọn vẹn bị sụt đổ, từ một tình yêu tha thiết. Ông không những chỉ đau cho mình, cho mái ấm gia đình mình, mà còn đau cho toàn bộ những người cùng quê nhà cũng đang lưu lạc trên khắp mọi miền tổ quốc “lại còn biết bao người làng, đang tan tác mỗi người một phương nữa, không biết họ đã biết cái cơ sự ngày chưa…’.

Đến khi, cái tin làng Chợ Dầu theo giặc được cải chính, toàn bộ những nỗi đau, tủi nhục được thay thế bằng niềm sung sướng, hân hoan “toàn bộ đều là sai sự mục đích cả… toàn bộ đều là sai sự mục đích cả”. Ông Hai báo cái tin làng bị giặc phá với niềm sung sướng tốt độ, tuy vậy nhà ông bị gặc đốt nhưng dường như ông chẳng có chút đau buồn nào “Tây nó đốt nhà tôi rồi ông chủ ạ, đốt nhẵn….”. Ông hạnh phcus bởi, cái sự mất mát của ông, của quê nhà ông cũng đó là minh chứng rõ ràng nhất cho lòng trung thành giành cho cách mạng.

Nhà văn Kim Lân đã khắc họa thật rõ ràng nhân vật ông Hai, hình Hình ảnh ông cũng là thay mặt thay mặt cho tầng lớp nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Hình ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích nhân vật ông Hai số 5

Kim Lân, ông đã để lại cho nền văn học Việt Nam những tác phẩm từ trước và Cánh mạng thang tám 1945 kiệt xuất. Ông đã xây dựng nên những người nông dân yêu nước sống động và giản dị. Trong số đó có ông Hai thu. Ông đã khắc họa thành công nhân vật ông Hai để rồi nói lên niềm tậm sự của tôi theo tác phẩm “Làng” về cảnh người dân tản cư trong khán chiến chống Pháp, dù đó là những “đồng chí” rứt ruột ra đi từ bỏ nơi chôn rau cắt rốn của tôi. Từ đó ông đã hóa than thành ônh Hai một cách thực sự.

Khi nhắc tới người nông dân Việt Nam thì ai cũng rất có thể liên tưởng đến sự cực khổ tận cùng dưới ách bóc tách lột của thực dân, tuy nhiên tuy nhiên với đó là lòng yêu thâm thúy, khắc vào tâm trí họ. Thật vậy, ông Hai là một người rất yêu nước, nhất là yêu cái làng. Ông luôn luôn nhớ về cái làng như “trẻ em nhớ cà rem”, “cây kem nhớ tủ lạnh”. Nhớ về những lúc cùng thanh niên thao tác “cùng hát hỏng, hông phèng, cùng đào, cùng cuốc, mê man suốt ngày”.

Ông tự nghĩ một mình rồi tự vui một mình, tự “thấy mình trẻ ra”, “thấy náo nức hẳn lên”. Tuy đã được tản cư vào khu yên ổn, không bom, khong mìn,nhưng ông vẫn canh cánh trong tâm địa, phiền lòng, “không biết cái chòi gác ỡ đầu làng đã dựng xong chưa? Những đường hầm kín kẽ chắc còn khướt lắm”. Ông buồn, buòn hẳn đi, có lẽ ông tự trách mình không trẻ được để ỡ lại chống giặc như những anh những chị thanh niên. Da diết “chao ôi! Ông lão nhớ làng, nhớ cái làng quá”. Ông lão nhớ cái làng như đứa trẻ thèm khát sữa mẹ, luồng sữa ấm nồng được nuôi dưỡng từ tình yêu thương và dinh dưỡng của người mẹ.

Còn ông, cái làng là nơi “chôn rau cắt rốn”, là nơi ông sống từ nhiều năm lâu nay nay, là nơi tổ tiên ông định canh định cư bấy nhiêu đời, và cũng là niềm tự hào to lớn của ông. Niềm tự hào đó không tạm ngưng trước cái đình to lớn mà đi đâu ông cũng khoe mà cả con người ỡ đó, rồi cái sinh phần của ông Tổng đốc làng ông với những tản đá của ông Hoàng Thạch Công đánh rơi giầy tượng đá bằng sứ của “Bát Tiên Quái Hải”. Mỗi bận nói tới việc cái làng Chợ Dầu cua rông thì “hai con mắt sáng ra hẳn lên. Cái mặt biến chuyển sinh hoạt”. Giống, có lẽ giống với thực ra người nông dân thời bấy giờ, tình yêu làng chuyển sang và hình thành tình yêu nước mãnh liệt.

Kim Lân cũng để nhân vật của tôi tiến triển như vậy. Ông Hai háo hức hẳn lênkhi nghe tin thắng trận về từ người khác. Hôm đó, khi nghe đến anh quân nhân lướt web đọc báo về chiến công của cách mạng thì “ruột gan ông cứ nhãy múa lên, vui quá!”. Tỉ lệ thuận với tình yêu nướclà sự căm thù giặc đến tận xương tủy đến. Và trái lại nếu như người ta đặt quá nhiều niềm tin vào trong 1 thứ gì đó thì khi sụp đổ họ sẽ mất cân bằng, mất niềm tin và đau đớn sẽ tràn ngập. Khi ông càng yêu cái làng, tôn thờ, tự hào, hãnh diện bao nhiêu thì nó lại càng tủi nhục, đau đớn, xé lòng bấy nhiêu khi ông nghe tin ” cả làng chúng nó Việt gian theo Tây” từ miệng người thiếu nữ ẳm con.

Ông thực sự sốc, choáng váng “cổ ông nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tường chừng như đến không thở được. Một lúc sau ông mới rặn è è, nuốt một chiếc gì vướng ở cổ” ông như không muốn tin điều đó là sự việc thật. Có lẽ ông dường như không tin nên cất tiếng hỏi gặn lại “liệu có thật không, hở bác? Hay là chỉ lại…” hay là chỉ lại nhầm lẫn, hay là chỉ lại chiêu chia gián của địch. Có lẽ ông đã tự phân minh, biện bạch cho phiên bản thân mình.

Ông đã tự tìm ngọn đuốc một mình trong niềm tin của tôi khi đã tan vỡ. Nhưng ngọn đuốc duy nhất và nhỏ nhỏ xíu nhỏ ấy lại bị chính miệng người thiếu nữ đó dập tắt khi bà xác định cứng rắn rằng “thì công ty chúng tôi vừa ở dưới ấy lên và lại”. bất thần hơn thế nữa là “Việt gian từ thằng quản trị mà đi cơ ông ạ. Tây vào làng, chúng nó bảo nhau vác thần ra hoan hô. Thàng Chánh Bệu thì khuân cả tủ chè, đỉnh đồng, vải vóc lên xe cam-nhông, đưa vợ con len vị trí với giặc ngoài tỉnh và lại”. Tai mong muốn vụt mất ngay, nó biến mất nhanh quá. Ông Hai bàng hoàng gật đầu đồng ý thực sự ấy một cách chua xót….

Có lẽ trong những ngày tủi nhục này, niềm ai ủi duy nhất so với ông là những lúc ôm thằng đàn ông út vào lòng vỗ về nó, trò chuyện với nó, một mực nó vẫn “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm”. Dù trong tình hình nào kể cả khi làng chợ Dầu của ông đã theo Tây, phụ thân con ông vẫn một lòng một dạ theo kháng chiến, ủng hộ cụ Hồ. Tấm lòng thủy chung son sắt của người nông dân so với cách mạng thật cảm động. “Chết thì chết có khi nào dám đơn sai” là một lời nguyền của người nông dân với cách mạng.

Nhưng nỗi thú vui sướng hả hê đã đi đến với ông Hai khi ông biết tin đích xác do ông quản trị làng cải chính cái tin làng chợ Dầu theo Tây. Nét mặt ông vui tươi rạng rỡ hẳn lên, mồm bôm bẻm nhai trầu, mắt hung hung đỏ hấp háy. Ông thân thiện, vui vẻ cởi mở với con cái. Ông sung sướng múa tay lên mà đi khắp những nhà khoe với mọi người làng mình vẫn theo kháng chiến. tuy vậy biết tin nhà mình bị đốt, “đốt nhẵn” nhưng vẫn không nuối tiếc gì, ông còn tỏ ra hả hê khoe với bà con: “Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. Đốt nhẵn”. Cho dù nhà có bị đốt nhưng thú vui sướng, hãnh diện nhất về cái làng chợ Dầu của tôi không theo Tây làm Việt gian, làng mình vẫn theo kháng chiến.

thú vui, nỗi buồn của người nông dân đều gắn chặt với cái làng quê thân yêu của họ. Nhà văn sống thân thiện, người nông dân, thấu hiểu tâmhồn của họ nên đã diễn tả được những nỗi thầm kín sâu xa của họ. Nhân vật ông Hai thật dễ thương và đáng yêu. Và ta càng cảm phục những người nông dân thật thà, chất phác, thủy chung như ông Hai trong hai cuộc kháng chiến vừa qua đã một lòng một dạ hi sinh vì cách mạng.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Hình ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích nhân vật ông Hai số 6

Hình Hình ảnh người nông dân từ lâu đã đi vào nền văn học dân tộc, nó trở thành đề tài, khơi nguồn cảm hứng cho thấy bao nhiêu người nghệ sĩ. Nếu như trước cách mạng tháng tám, ta phát hiện hình Hình ảnh chị Dậu quẩn quanh trong cái đói, cái nghèo qua truyện ngắn “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố; hình Hình ảnh Chí Phèo tha hóa, biến chất từ người lương thiện trở thành thằng côn đồ, lưu manh, con quỷ dữ của làng Vũ Đại trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao … thì sau cách mạng, nhà văn Kim Lân cũng góp một hình Hình ảnh người nông dân vào trong đề tài ấy với thiên truyện ngắn mang tên: “Làng” (1948).

Thế nhưng, Kim Lân không khai thác cái nghèo, cái đói, sự tha hóa về nhân tính, nhân hình của họ tựa như những nhà văn trước đó, mà ông lại đi vào diễn tả sự hòa quyện giữa tình yêu làng và tình yêu nước, tinh thần kháng chiến của người nông dân. Điều đó, được Kim Lân thể hiện rất thành công qua hình tượng nhân vật ông Hai, để rồi từ đó ông Hai trở thành bức tượng đài hình tượng cho toàn bộ những người nông dân trong thời đại mới – thời đại cách mạng và kháng chiến.

Trước hết, ông Hai hiện lên là một người nông dân yêu nước, yêu làng, luôn luôn tự hào về quê nhà, phiên bản quán, nơi chôn rau cắt rốn của tôi.Tình cảm đó, được thể hiện ở cái tính thích khoe về làng, hãnh diện về làng của ông. Đi đến đâu, ông cũng khoe với mọi người, làng ông giàu đẹp, làng ông có truyền thống cuội nguồn cách mạng. Vì thế, mỗi lần kể về làng, ông kể với một thái độ say mê, khuôn mặt biến chuyển, đôi mắt thì háo hức, ông nói theo cách khác với bất kể ai về cái đề tài vô tận đó. Kể cả khi ông nói, người nghe vẫn muốn nghe hay là không, ông cũng mặc kệ, bỏ mặc cứ say sưa mà nói.

Vậy mà giờ đây, ông Hai lại phải xa quê, xa làng, đưa cả mái ấm gia đình đi tản cứ theo lệnh. “Ông nằm vật trên giường, bắt tay lên trán nghĩ ngợi vẩn vơ. Ông lại nghĩ về cái làng của ông, lại nghĩ đến cái ngày thao tác cùng đồng đội…”, ông nhớ tới cái ngày tháng cùng bè bạn, đồng đội trong làng, trong xóm đào hào, đắp ụ, công việc bộn bề, mải mê làm, ông “chẳng còn kịp nghĩ gì đến vợ con nhà cửa nữa”… Và đằng sau cái nỗi nhớ ấy, người đọc thấy được sự gắn bó thiết tha cùng tình cảm yêu mến chân thành của ông Hai với xóm, với làng. Tình cảm ấy, thật khiến cho chúng ta nhớ tới câu ca dao xưa:

Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương

Nhớ ai dãi nắng dầm sương

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.

Và, ở ông Hai cũng vậy, toàn bộ mọi thứ nối sát với làng Chợ Dầu, ông đều khắc ghi, đều nhớ ở trong tận đáy lòng: “Chao ôi! Ông lão nhớ lang, nhớ cái làng quá”. Và càng nhớ, ông lại càng muốn tìm hiểu, muốn nghe ngóng về tình hình của làng. Vì vậy, ngày nào thì cũng thế, ở nơi tản cứ, cứ mỗi sáng việc làm thứ nhất là ông vào phòng thông tin mà nghe, mà lướt web đọc báo, mong muốn sẽ biết chút ít về làng, về kháng chiến. Cho nên khi biết được toàn những tin tốt lành về kiểu cách mạng, “ruột gan ông cứ múa cả lên, vui quá!”… Như vậy, đến đây chúng ta thấy được nỗi nhớ quê nhà da diết, cháy bỏng của nhân vật ông Hai và ông luôn luôn dõi theo từng bước đi của cách mạng, của kháng chiến. Đó là nét tâm lí điển hình nổi bật, thường thấy và vốn có của người nông dân so với làng quê, tổ quốc, niềm mong mỏi được trở về làng, trở về nơi quê phụ thân đất tổ cũng đồng nghĩa với niềm mong mỏi tổ quốc sạch bóng ngoại xâm.

Nhưng có một sự kiện bất thần đã xảy ra với ông, từ phòng thông tin bước ra đang rất phấn khởi, náo nức vì những tin vui của kháng chiến, gặp người tản cư, nghe họ nhắc tới tên làng, ông Hai quay phát lại, lắp bắp hỏi, mong muốn được nghe những tin tốt lành về làng, nào ngờ lại hay tin: cả làng chợ Dầu theo giặc. Trước tin dữ ấy, ông Hai sững sờ chết lặng “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như không thở được”. Từ thú vui, niềm tin mong muốn, ông Hai rơi xuống vực thẳm đau buồn, xót xa, vô vọng. Ông nỗ lực trấn tĩnh phiên bản thân và tìm cách lảng ra về, muốn che giấu đi tâm trạng ấy nhưng nỗi tủi hổ, bẽ bàng, phiền lòng khiến cho ông “cúi gằm mặt mà đi”, còn văng vẳng tiếng chửi “giống Việt gian bán nước”.

Khi về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giường, rồi tủi thân khi nhìn đàn con nhỏ: “nước mắt ông lão cứ giàn ra”. Những dòng độc thoại nội tâm trong ông thể hiện nỗi day dứt, đau đớn: “Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng trở nên người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?…”. Ông căm giận lũ người theo giặc, phản bội làng nước, ông lão nắm chặt hai tay mà rít lên: “Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi thao tác cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này”. Nhưng sau đó, ông lại cảm thấy “ngờ ngợ” như lời của tôi không được đúng lắm. Niềm tin và nỗi thất vọng đang giằng xé trong ông. “Ông kiểm điểm từng người trong óc” thấy họ đều là những người có tinh thần kháng chiến, một sống một chết với giặc, có đời nào lại can tâm làm điều nhục nhã ấy được. Trong tình hình giặc giã thì tinh thần yêu nước, tinh thần kháng chiến là một thứ tình cảm thiêng liêng, cao đẹp; còn phản bội là điều xấu xa ô nhục nhất.

Vì thế từ khi nghe đến tin làng mình theo giặc, nó đang trở thành nỗi ám Hình ảnh, day dứt trong tâm trí của ông, khiến cho ông ba bốn ngày hôm nay không dam bước đi ra đến ngoài. Suốt ngày chỉ quanh quẩn ở trong cái gian nhà chật chội ấy mà nghe ngóng binh tình. “Một đám đông túm lại ông cũng để ý, dăm bảy tiếng nói xa xa ông cũng chột dạ”, lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng người ta đang để ý , đang buôn chuyện đến “cái chuyện ấy”; cứ thoáng nghe những tiếng Tây, cam nhông , Việt gian là ông lại lủi thủi ra một góc nhà nín thít… “Thôi lại chuyện ấy rồi!”. Ông luôn luôn thu mình lại, cảm thấy xấu hổ, đau xót và dường như cảm thấy chính mình cũng đều phải sở hữu tội vậy. Ông rời vào tình trạng vô vọng khi mà bà chủ nhà đánh tiếng đuổi mái ấm gia đình ông đi vì “nghe nói, bảo có lệnh đuổi hết những người làng chợ Dầu khỏi vùng này, không cho ở nữa”.

Ông Hai không biết đi đâu, cũng không thể quay lại trở về làng vì về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ, “về làng tức là chụy quay lại làm nô lệ cho thằng Tây”. Trong ông Hai tung ra cuộc đấu tranh nội tâm gay gắt và dứt khoát lựa chọn theo cách của tôi “Làng thì yêu thật những làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Tình yêu nước đã bao trùm lên tình yêu làng. tuy nhiên ông không thể vứt bỏ tình yêu làng nên ông Hai càng đau xót, tủi hổ. Trong tâm trạng bị dồn nén, không biết giải tỏa ra làm sao, ông Hai chỉ với biết trút lòng mình với đứa con nhỏ. Cuộc đối thoại giữa ông và đứa đàn ông đã thể hiện thật cảm động tấm lòng gắn bó thâm thúy với làng quê, với tổ quốc và với kháng chiến của ông Hai. Ông nói với con mà như tự nói với chính mình, tự mình oan, tự chiêu tuyết cho mình. Đoạn thoại, vừa chất chứa nỗi đau đớn, xót xa, lại vừa thể hiện tấm lòng thủy chung, son sắt với kháng chiến, với cách mạng, với cụ Hồ.

Có lẽ, nếu không nhận được tin cải chính thì cả đời ông Hai sẽ chết dần, chết mòn trong nỗi đau đớn, tủi hổ, bẽ bàng về cái làng của tôi mất. Những sau đó, tổ chức chính quyền làng ông đã lên cải chính cái tin làng chợ Dầu theo giặc. Nhận được tin, ông Hai như sống lại, thú vui tràn ngập trong ông: quần áo chỉnh tề, mặt vui tươi, rạng rỡ hẳn lên, mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ, hấp háy, nói bô bô, mua quà cho những con…. nhất là hành vi ông chạy đi khoe với toàn bộ mọi người cái tin vui ấy. thú vui sướng, hạnh phúc dâng trào khiến cho ông cứ múa tay lên mà khoe. Và lạ thay, câu thứ nhất ông khoe không phải là việc làng ông không theo giặc mà là “Tây nó đốt nhà tôi rồi… đốt nhẵn!”. Với người nông dân, căn nhà là cả cơ nghiệp của họ mà cả đời họ làm lụng vất vả mới có được. Nhưng ông Hai không hề tiếc căn nhà của tôi chính vì nó là minh chứng xác định làng ông không theo giặc và trên hết là nó như là sự việc “đóng góp” của mái ấm gia đình ông với kháng chiến. Điều đó, một lần nữa càng xác định rõ ràng hơn tình yêu làng, tình yêu nước và sự trung thành với kháng chiến ở ông Hai.

Đến đây, chúng ta thấy được sức sáng tạo rất dị của Kim Lân trong nghệ thuật và thẩm mỹ tạo trường hợp, thực sự gay cấn, kịch tính với những thử thách của nội tâm nhân vật, từ đó thể hiện chiều sâu đời sống bên trong, tình cảm, tư tưởng của nhân vật. Tác giả đã miêu tả tâm lí nhân vật thâm thúy, tinh xảo, rất rõ ràng, sexy nóng bỏng qua trái đất nội tâm với những ý nghĩ, hành vi, ngôn từ. đặc trưng, nhà văn đã diễn tả rất đúng, rất tuyệt hảo về việc ám Hình ảnh day dứt trong tâm trạng nhân vật. Điều đó chứng tỏ Kim Lân am hiểu thâm thúy con người và những nét tâm lí vôn có của người nông dân Việt Nam sau lũy tre làng.

Quả đúng như nhà văn Ra – xun Gam – za – tôp đã từng nói: “Người ta chỉ rất có thể tách con người ra khỏi quê nhà, chứ không thể tách quê nhà ra khỏi con người”; tức là con người rất có thể rời xa quê nhà về mặt không khí vũ trụ, địa lí nhưng trong sâu thẳm trái tim, tâm hồn mỗi người, quê nhà vẫn luôn luôn tồn tại. Điều đó thật đúng với nhân vật ông Hai, một người nông dân xa làng đi tản cư nhưng luôn luôn đau đáu một nỗi nhớ làng, yêu nước.

Qua nhân vật ông Hai, người đọc thấy được tài năng khắc họa hình tượng nhân vật ở trong nhà văn Kim Lân, thật rất dị, thật sống động, mang đậm yếu tố thời đại kháng chiến cách mạng: lòng yêu làng, yêu nước, trung thành với kháng chiến, với dân tộc. Ông Hai trở thành bức tượng bài bất tử, hình tượng cho toàn bộ những người nông dân Việt Nam trong cuộc trường kì của cách mạng dân tộc.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Hình ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích nhân vật ông Hai số 7

Nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng ở trong nhà văn Kim Lân đã để lại cho toàn bộ những người đọc những tuyệt hảo thâm thúy. Đó là người nông dân có tình yêu làng và yêu nước thâm thúy, hai tình yêu này hòa quyện với nhau tạo ra dấu ấn khó phai về nhân vật. Tình yêu làng của ông Hai được thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi, nó ngấm vào máu thịt trong ông. Tình yêu ấy rất có thể chia làm ba chặng chính: tình yêu làng khi ông Hai ở làng tản cư; tình yêu làng, yêu nước khi ông Hai nghe tin làng mình theo Việt gian; tình yêu làng, yêu nước khi ông nghe tin cải chính.

Trước hết, tình yêu làng của ông Hai khi ở làng tản cư. Ở nơi tản cư, ông Hai nhớ làng da diết, tâm trí ông luôn luôn hướng về những ngày sinh hoạt kháng chiến, những ngày đào ụ, xẻ hào để giữ làng cùng đồng đội, đồng đội. trong số những thay đổi của tình hình hiện tại, phải tản cư đi nơi khác, tuy vậy gặp nhiều khó khăn nhưng mỗi một khi nhớ về làng quê yêu dấu lại tiếp thêm vào cho ông động lực, làm dịu đi trong ông những tủi cực của một kẻ tha hương. rất có thể thấy ở ông Hai, tình yêu làng gắn bó mật thiết, bền chặt với tình cảm kháng chiến.

Nỗi nhớ ngập tràn và lòng khao khát, mong muốn trở lại làng để được tham gia kháng chiến dồn nén mạnh mẽ và uy lực đến mức ông bật thành lời: Chao ôi ! Ông lão nhớ làng, nhớ cái làng quá !. Ông Hai mỗi ngày đều đến phòng thông tin, một mặt để dõi theo từng bước đi của cuộc kháng chiến, nhưng sâu xa hơn, ông đến vì mong mỏi khoảnh khắc nào đó ông rất có thể nghe được tin tức về làng chợ Dầu. khi nghe đến những thông tin quân ta thắng lòng ông phấn chấn, hỉ hả ruột gan ông lão như múa lên. Vui quá. thú vui đi liền với niềm tin vào trong 1 ngày cách mạng thắng lợi, ông sẽ được trở về ngôi làng yên bình của tôi.

Tình yêu làng còn được thể hiện một cách thâm thúy khi ông nghe tin làng theo Tây. Trong lúc ông Hai đang sống trong cảm xúc vui sướng thì tim ông như vỡ vụn khi nghe đến tin cả làng chợ Dầu Việt gian theo Tây. Chính trong tình hình thử thách éo le này tình yêu làng mà cao hơn là tình yêu nước trong ông được thể hiện một cách thâm thúy. Ông vô cùng bàng hoàng, bất thần, nỗi xúc động tột cùng dâng trào, khuôn mặt cố tỏ ra bình tĩnh nhưng không thể nào nén lại nỗi đau đang lan dần trên khuôn mặt ông: cổ ông lão nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân, lặng đi, tưởng như không thở được ….

Đó quả thực là một tin trời giáng so với ông Hai, ông không thể tin và không muốn tin đó là sự việc thật. Nhưng lời của người thiếu nữ quả quyết quá, bằng cớ rõ ràng quá khiến cho ông đành phải tin cái thực sự khủng khiếp ấy. Những lời nói của những người tản cứ như con dao cứ vào trái tim ông. Ông cúi gằm mặt mà đi, đau đớn, tủi nhục đến tốt cùng. Danh dự, lòng tự trong mà to thêm là điều gì đó vô cùng thiêng liêng trong tâm địa ông đã sụp đổ.

Về đến nhà, ông nằm vật ra đường, nhìn những đứa con ông lại càng thương chúng hơn: chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư ? Chúng nó cũng trở nên người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư, uất hận ông rít lên trong đau đớn chúng bay miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi thao tác cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này, ông chán ghét, khinh bỉ đến tột cùng. Trò chuyện với vợ trong gian nhà nhỏ, thái độ của ông vừa tức bực, vừa đau đớn, đâm ra ông gắt gỏng vô cớ với vợ. Những ngày này ông chỉ ở nhà, không dám đi đâu. Trong tình hình đó ông và cả mái ấm gia đình còn bị mụ chủ nhà khó tính đuổi khéo đi. Điều đó làm ông Hai trở nên thất vọng vô vọng hơn khi nào hết.

Chính giây phút vô vọng đấy ông đã nghĩ hay là về làng. Nhưng lập tức trong ông tung ra cuộc đấu tranh quyết liệt: về làng tức là rời bỏ kháng chiến, đầu hàng Tây,… Đến đây tình cảm cách mạng và lòng yêu nước đã thực sự hòa quyện trong ông. Tình yêu làng của ông giờ đây nối sát với tình yêu nước, với kháng chiến và được thể hiện rõ ràng trong cuộc đối thoại với đứa con út. Lời xác định dứt khoát, kiên định: Ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm, là tiếng lòng trung thành với Bác Hồ, với Đảng và với tổ quốc. Hơn hết, dù đau đớn nhưng ông vẫn tin rằng đồng đội đồng chí biết cho bố con ông, cụ Hồ trên đầu, trên cổ soi xét cho bố con ông. Sự trung thành của ông với lãnh tụ, với kháng chiến cũng là lòng trung thành của triệu người dân Việt Nam với Đảng với cách mạng.

Tình yêu làng của ông Hai một lần nữa được thể hiện rõ ràng trong đoạn cuối tác phẩm khi ông Hai nghe tin cải chính, làng chợ Dầu không theo Tây. Mới đến ngõ, chưa vào nhà ông đã bô bô, rồi lật đật chạy sang nhà bác Thứ, đi hết nơi này đến nơi khác để khoe, vừa đi ông vừa múa lên. thú vui ấy đến mức dù nhà mình bị đốt cháy ông cũng chẳng hề lưu tâm. rõ ràng này khiến cho người đọc càng cảm động hơn, trân trọng hơn tình yêu làng, yêu tổ quốc, yếu kháng chiến của ông Hai.

Nhân vật ông Hai được khắc họa chủ yếu qua ngôn từ và diễn biến tâm trạng. ngôn từ nhân vật giản dị, sống động, giàu cảm xúc. Diễn biến tâm trạng được thể hiện trực tiếp qua những cảm xúc, suy nghĩ và trải qua cả cử chỉ, điệu bộ, tầm vóc. Đồng thời quy trình vận động tâm lí cũng hết sức phải chăng từ nhớ nhung, mong mỏi đến bất thần, bàng hoàng, chìm trong tủi nhục, đau khổ và sau cuối là thú vui mừng vỡ òa, hạnh phúc tột cùng.

Bằng lối văn chân thực, giàu cảm xúc Kim Lân đã thành công trong việc xây dựng nhân vật ông Hai. Nhân vật mang trong mình tình yêu làng, yêu nước nồng nàn, tha thiết. Lòng yêu nước bao trùm và chi phối tình yêu làng – đấy là bước chuyển biến mới trong tư tưởng nhận thức của những người nông dân sau cách mạng.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Hình ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích nhân vật ông Hai số 8

Tình yêu quê nhà, tổ quốc là một chủ đề lớn của văn học dân tộc. Đọc mỗi câu thơ, bài văn ta không khỏi bồi hồi, xúc động trước tình cảm mà tác giả biểu lộ với nơi mình được sinh ra: “Nay xa cách lòng tôi luôn luôn tưởng nhớ/ Màu nước xanh cá bạc chiếc buồm vôi/ Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi/ Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá” (Tế khô nóng). Nằm trong chuỗi đề tài lớn ấy, ta không thể không nhớ đến một ông Hai với lòng yêu nước nồng nàn và tình yêu làng tha thiết trong tác phẩm Làng ở trong nhà văn Kim Lân.

Cuộc kháng chiến tung ra ngày một ác liệt, ông Hai sinh sống ở làng chợ Dầu phải tản cư đi nơi khác. Trong những ngày rời xa ngôi làng yêu dấu lòng ông không ngừng thổn thức nhớ về quê nhà. Ông lưu ý lắng nghe từng tin về kháng chiến, về làng. Và đỉnh điểm của tình yêu đó đó là khi ông nghe tin làng chợ Dầu theo giặc. Ông Hai bị đặt trong tình thế phải lựa chọn giữa làng và nước. sau cuối ông Hai đã chọn tình yêu nước, bởi làng đã theo giặc thì phải thù. Như vậy, tiếp tục khai thác về lòng yêu nước, nhưng bằng ngòi bút tinh xảo Kim Lân đã phát hiện ra nét mới trong tình yêu nước của người nông dân. Trong những ngày phải sinh sống ở làng tản cư, ông Hai không ngừng nhớ thương về ngôi làng. Làm sao không nhớ cho được nơi chôn rau cắt rốn của tôi, đúng như nhà thơ Đỗ Trung Quân đã từng viết:

quê nhà mỗi người chỉ một

Như là chỉ một mẹ thôi

quê nhà nếu ai không nhớ

sẽ không còn lớn nổi thành người

Ông Hai cũng không nằm ngoài quy luật chung đó. tuy vậy cuộc sống đời thường lao động vất vả, nhưng trong những phút rảnh rỗi ông vẫn mường tượng nhớ về những công việc mình đã làm với những đồng chí, đồng đội: đào, cuốc, đắp ụ, xẻ hào,… Mỗi lần hồi tưởng làm ông lại có động lực hơn, lòng yêu nước lại mạnh mẽ và uy lực hơn. Ngày nào ông cũng nghe ngóng tin tức, bụng ông như múa lên mỗi lần nghe được một tin thắng trận của ta. Những hành vi nhiều lúc có phần trẻ con, nhưng đó đó là biểu lộ chân thực nhất của lòng yêu nước nồng nàn trong ông và cũng như của toàn bộ những người Việt Nam khác.

Nhưng mọi chuyện so với ông lại không hề suôn sẻ, những ngày tháng ở làng tản cư, khi lòng nhớ làng lúc nào thì cũng sục sôi thì bỗng ông nhận được tin dữ ấy là làng mình theo giặc. Cái tin đó chẳng khác gì gáo nước lạnh đổ thẳng vào lòng nhiệt thành và trái tim yêu làng cháy bỏng của ông. Bàng hoàng và sững sờ, “cổ ông lão nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân”. Làm sao ông rất có thể không bàng hoàng cho được, cái tin đó quá đỗi bất thần và ngoài sức tưởng tượng của ông. Như để xác minh lại thông tin, ông Hai còn nỗ lực hỏi lại người thiếu nữ: “Liệu có thật không hở bác”. Giọng nói run run, nghẹn ứ và sau khoản thời hạn nghe lời xác nhận, ông lặng lẽ vươn vai, rồi hắng giọng về. Câu nói đưa đẩy ấy chất chứa bao tâm tư, bao nỗi lòng trong ông. Trên đường về ông chẳng dám nhìn ai, cứ thế cúi gằm mặt mà đi.

Về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giường, mấy đứa trẻ thấy phụ thân có vẻ khác cũng vội lảng đi. Như để kiểm chứng lại lần cuối, ông Hai kiểm điểm trong đầu từng người trong làng, ông hoang mang phiền lòng. Đây đó là biểu lộ của lòng yêu nước nồng nàn và sự trung thành với cách mạng nơi ông. không chỉ là vậy, cái tin làng theo giặc cứ đeo bám, ám Hình ảnh ông khiến cho ông không dám tiếp xúc với mọi người, nỗi nhục nhã, xấu hổ trào dâng trong tâm địa. Ông Hai đã như nhau danh dự của làng với danh dự của chính mình, tạo cho cái tin làng theo giặc cũng như chính ông đang theo giặc. Bởi vậy nỗi đau đớn, tủi hổ lại càng ông chồng chất lên gấp bội.

Tin làng chợ Dầu theo giặc lan nhanh khắp mọi nơi, mái ấm gia đình ông phải đương đầu với một nguy cơ tiềm ẩn mới đó là bị mụ chủ nhà đuổi đi. Sự việc ấy, không chỉ là tác động đến phiên bản thân ông mà còn tác động đến mái ấm gia đình ông cũng như rất nhiều người sống ở làng chợ Dầu khác. Đêm đó trong ông Hai đã tung ra cuộc đấu tranh nội tâm vô cùng quyết liệt, đi hay ở. Và sau cuối ông quyết định không về làng, bởi về làng là theo giặc, là phản bội lại cách mạng và Bác Hồ, “làng yêu thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. thực ra của ông Hai là tình nhân làng tha thiết, nhưng cao hơn cả ông là tình nhân nước, tình yêu nước là tình cảm bao trùm tình yêu làng.

Với ngòi bút phân tích tâm lí vô cùng xuất sắc, cùng với đó là nghệ thuật và thẩm mỹ kể chuyện tài tình, Kim Lân đã liên tục tạo ra những bước ngoặt tâm lí, để mẩu chuyện mê hoặc, sinh động, hơn hết là để thấy được vẻ đẹp của nhân vật chính – ông Hai. Những ngày ông Hai nghe tin làng chợ Dầu theo giặc đớn đau, tủi nhục bao nhiêu thì ngày nghe tin cải chính lòng ông vui sướng, trẻ lại bấy nhiêu. Lúc bấy giờ ông Hai chẳng khác gì một đứa trẻ con, ông đi khoe ở khắp nơi, làng bị Tây đốt nhẵn với giọng hồ hởi, sung sướng. Tài sản, nhà cửa so với ông lúc này đâu còn nghĩa lí, cao hơn đó đó là danh dự của ông, danh dự của làng đã được khôi phục. thực ra hồn nhiên, chất phác của người nông dân lúc này được thể hiện rõ ràng hơn khi nào hết.

Kim Lân không sáng tác nhiều, nhưng chỉ với tác phẩm này cùng nhân vật ông Hai đã cho thấy ngòi bút phân tích tâm lí nhân vật bậc thầy. Ông Hai hiện lên là tình nhân làng, yêu nước tha thiết, sâu nặng, tình yêu đó nối sát với danh dự và mạng sống của ông. Chỉ với lớp ngôn từ chân thành, giản dị, nhưng cũng đủ để Kim Lân cho toàn bộ những người đọc thấy một vẻ đẹp rất khác của lòng yêu nước ở những người nông dân chất phác, lương thiện.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Hình ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích nhân vật ông Hai số 9

Trong những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta, nhiều thành phố, làng mạc gần thủ đô hoặc những địa phương trọng yếu tản đi những nơi khác. Giữa bối cảnh ấy, truyện ngắn “Làng” của Kim Lân xây dựng và hoạt động và được xem như một truyện ngắn hay. Nhân vật chính trong truyện, ông Hai là tình nhân mến, gắn bó với làng quê mình. Theo dõi từ trên đầu đến cuối truyện ngắn, nhân vật ông Hai để lại trong tâm địa người đọc một tình cảm sâu đậm, khó quên. Khép sách lại rồi, tuyệt hảo rõ nhất về ông Hai là một tình nhân mến làng quê bằng tình yêu say đắm. Tình yêu ấy ở ông như một ngọn lửa hừng hực không nguôi.

so với ông, cái gì ở làng ông cũng đáng tự hào. Trong mẩu chuyện phiếm với bè bạn, khi nào thì cũng vậy, sau cuối, khi mẩu chuyện tin tức mỗi ngày đã nhạt rồi, ông xoay đến chuyện cái làng của ông. Ông rỉ tai về cái làng ấy một cách say mê và náo nức lạ thường – “Hai con mắt ông sáng hẳn lên, cái mặt biến chuyển, sinh hoạt”. Khoe làng ông có một chiếc phòng Thông tin sáng sủa rộng thoải mái nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre. Ông khoe làng ông nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh.

Đường trong làng toàn lát đá xanh, trời mưa đi bùn không dính đến gót chân, ngày mùa phơi thóc, phơi rơm thì tốt thượng hạng,… Những điều ông khoe khoang, tuy phần nào có hơi quá nhưng vẫn là chính đáng vì nó xuất phát từ tình yêu mãnh liệt của ông so với quê nhà. Nhưng cũng đều phải sở hữu những lúc tình yêu ấy khiến cho ông mù quáng đến nỗi ông tự hào cả những chuyện rất khôi hài. Đó là chuyện ông hãnh diện cho làng có được cái sinh phần của viên Tổng đốc làng ông. Mỗi lần khách bên họ ngoại ở dưới tỉnh Nam lên chơi, thế nào thì cũng dắt ra xem làng cho kì được. Ông thấy làng ấy một phần như có ông. Mãi đến sau Cách Mạng Tháng Tám, ông mới nhận ra chỗ sai lầm của tôi, vì chính cái dinh cơ ấy đã gây ra bao đau khổ cho dân làng. Có người ốm, có người chết, có người làm mấy tháng trời không được một đồng công nào. Phần ông, ông bị một ông chồng gạch đổ vào làm bại một bên hông. Cái chân ấy bấy giờ vẫn tồn tại đi khập khiễng cũng vì cái làng ấy.

Khi cuộc kháng chiến bùng nổ, ông Hai cùng vợ con phải tản cư đến một làng khác. Biết bao buồn bực trong tâm địa ông. Vốn là người hay làm, ở quê ông làm suốt ngày. từ thời điểm ngày tản cư lên đây, suốt ngày nhong nhóng ngồi ăn, tối đến lại ngồi nghe vợ con tính toán tiền nong, ruột gan ông lại nóng lên như lửa đốt. Ông phải đi dạo cho khuây khỏa. Ngày ngày, ông sang nhà bác Thứ một phần để biết tin tức, nhưng chủ yếu là được rỉ tai về làng ông. Ông khoe những ngày khởi nghĩa rộn rập ở làng, những buổi tập quân sự, có đào hố, đắp ụ, đào giao thông hào chiến đấu… Cứ như vậy, suốt cả buổi tối ông Hai nói liên miên đủ thứ chuyện, không cần bác Thứ có quan tâm đến không – “Thực ra, ông chỉ nói cho sướng miệng và đỡ nhớ cái làng của ông thôi”. Đó đó là tấm lòng sống động gắn bó của ông với làng, cũng là niềm tự hào chân chính của ông về làng.

Những ngày đầu kháng chiến, ông tự hào về làng Dầu không chỉ là vì nó đẹp mà còn vì làng đã tham gia vào trận đánh đấu chung của dân tộc. Ở nơi tản cư, chính những tin tức về kháng chiến đã làm cho ông khuây khỏa nỗi nhớ làng. Nghe anh dân tộc lướt web đọc báo trong phòng Thông tin, ông lấy làm khâm phục những con người hero trong kháng chiến: một em nhỏ trong ban tuyên truyền xung phong quả cảm cắm quốc kì lên tháp Rùa, một anh trung đội trưởng khi giết được bảy tên giặc đã tự sát bằng một quả lựu đạn sau cuối. Ông tấm tắc: “Khiếp thật, tính những người tài xuất sắc cả”. Ông hả hê trước thất bại của địch: chỗ này giết được năm Pháp với hai Việt gian, chỗ kia phá đổ một xe tăng và một xe díp,.. “Ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá”. Tấm lòng ông so với quê nhà giản dị như vậy đó!

Nhưng đau khổ thay cho ông Hai khi nghe đến những người mới tản cư lên sau cho thấy làng Dầu của ông theo Việt gian. “Cổ ông lão nghẹn đắng hẳn lại, da mặt lê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như không thở được”. Bao nhiêu điều tự hào lâu nay nay bỗng sụp đổ tan tành, ông cảm thấy như chính ông mang nỗi nhục của một tên Việt gian theo giặc. “Ông cúi gầm mặt xuống mà đi”. Về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giường, không buồn ăn uống, thao tác gì cả.

Nhìn lũ con, nghĩ đến sự rẻ rúng, hắt hủi con người ta so với dân làng Việt gian, nước mắt ông cứ tràn ra. Rồi ông lo cho mụ chủ nhà biết được không cho mái ấm gia đình ông ở nhờ. Có đến ba bốn hôm liền, “ông Hai không bước đi ra ngoài, cả đến lên bác Thứ ông cũng không dám sang”. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang bàn đến “cái chuyện ấy”. Chỉ những tình nhân mến gắn bó tha thiết với làng quê mới có nỗi khổ nhục ray rứt như vậy.

Hơn lúc nào hết, trong tâm địa ông canh cánh do dự: trở về làng hay ở lại tản cư? Ông đã từng nhớ làng da diết, từng ao ước được trở về làng. Nhưng “vừa chớm nghĩ vậy, lập tức lão phản đối ngay”… “ Về làng tức là bỏ kháng chiến. Bỏ cụ Hồ”. Thật là cảm động khi ta phát hiện suy nghĩ của ông: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Lắng nghe tâm sự giữa ông và thằng con út, chúng ta cảm thấy xót lòng khi “Nước mắt ông chảy ra, chảy ròng ròng trên hai má” vì câu nói của thằng nhỏ xíu nhỏ: “Ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm”. Sự việc đó cũng đồng nghĩa với tình yêu tổ quốc mà ông hằng ấp ủ trong tâm địa dù làng Dầu có theo giặc.

Nhưng rồi cũng đều phải sở hữu ngày thực sự sẽ trưng bày. Cái điều ông Hai mong mỏi cũng đã đi đến: làng Dầu không khi nào là làng Việt gian. Chỉ mới nghe người làng đến chơi thì thầm to nhỏ, ông Hai đã đóng khăn gói chỉnh tề toàn bộ đi theo hắn. “Ông vội vã đến quên cả dặn trẻ coi nhà”. Đến xẩm tối ông trở về, mặt mày rạng rỡ hẳn lên, vừa đến đầu ngõ, ông lão đã lên tiếng gọi con trẻ ông chia quà, rồi “ông lão lật đật đi thẳng sang gian bác Thứ” để cải chính cái tin làng Dầu là làng Việt gian. thú vui sướng trong tâm địa ông tràn trề cả ra phía bên ngoài.

Ông chia quà cho lũ con như share những thú vui cho chúng. đưa tin nhà mình bị Tây đốt một cách vui mừng như một vật chứng hùng hồn rằng ông không phải là Việt gian. Ông lật đật đi hết nơi này đến nơi khác, “cứ múa tay lên mà khoe cái tin ấy với mọi người”. thú vui sướng trong tâm địa ông thật là vô bờ bến, thốt thành lời: “Ông quản trị làng tôi vừa mới lên trên này cải chính…”. Tối hôm ấy, ông Hai sang bên nhà bác Thứ, lại ngồi chiếc chõng tre mà rỉ tai về cái làng của ông đến tận khuya.

Dõi theo mẩu chuyện, chúng ta hiểu ông Hai từ một người chăm lo làng quê mình một cách quá đáng, ông đã nối sát tình cảm đó với tình yêu tổ quốc. Chính vì vậy mà làng Dầu của ông có ra làm sao đi nữa, ông vẫn một lòng, một dạ ủng hộ cách mạng, ủng hộ cụ Hồ. hành vi đó là biểu lộ rõ ràng của lòng yêu nước chân thành của người nông dân. Đó đó là thước đo của tấm lòng con người so với quê nhà tổ quốc mình. Tình cảm đó rất cao đẹp và rất rất đáng được trân trọng hơn toàn bộ những phẩm chất của con người.

Mỗi người đều phải sở hữu quê nhà của tôi và mỗi người đều phải sở hữu một tình yêu quê nhà tha thiết. Ông Hai trong truyện ngắn “Làng” của Kim Lân cũng yêu quê nhà đến cháy dạ, cháy lòng. Đọc qua tác phẩm này, lòng em bỗng xôn xao một thú vui vì câu truyện đã khơi dậy trong em tình yêu quê nhà tổ quốc. Từ đấy em càng yêu làng xóm, quê nhà của tôi hơn. Những hình Hình ảnh đói nghèo của bà con trong xóm, cũng như trước khó khăn chung của nhân dân, em thấy mình cần phải nỗ lực học tập thật nhiều hơn thế nữa nữa để góp thêm phần xây dựng quê nhà tổ quốc mình thêm đẹp, thêm giàu.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Hình ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích nhân vật ông Hai số 10

Nếu như trước Cách mạng Tháng Tám, Ngô Tất Tố mang tới một chị Dậu với sức sống mãnh liệt của người nông dân, Nam Cao mang tới một Lão Hạc đầy lòng tự trọng và tình yêu thương con vô bờ bến,… thì sau Cách mạng Tháng Tám, Kim Lân – nhà văn nông dân – mang tới cho chính mình đọc hình Hình ảnh người nông dân thời kì thay đổi. Đó đó là nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “Làng” với tình yêu làng quê và lòng yêu nước sâu đậm, tha thiết.

Sinh ra và lớn lên nơi làng quê Việt Nam, trong số những người nông dân chất phác, nhà văn Kim Lân đã sớm gắn bó và am hiểu thâm thúy về cuộc sống đời thường ở nông thôn, sáng tác nhiều tác phẩm về đề tài này. Trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, khi người dân miền Bắc được lệnh tản cư, ông lại một lần nữa khắc họa hình Hình ảnh người nông dân trong truyện ngắn “Làng”, không phải trong những vấn đề thường nhật, mà về tình yêu làng quê và tổ quốc của những con người chân lấm tay bùn ấy. Tác phẩm được đăng lần thứ nhất trên tạp chí Văn nghệ năm 1948, đánh dâu bước chuyển biến tích cực trong hình tượng người nông dân và nhân thức của họ, đặc trưng qua nhân vật ông Hai.

Nét tính cách thứ nhất và dễ nhận thấy nhất ở ông Hai là tình yêu tha thiết so với làng ông. so với người nông dân, làng không chỉ là là một đơn vị hành chính, địa lí. Ở đó chứa đựng cuộc sống đời thường của họ, toàn bộ những gì thân thiện và thân thuộc với họ. Làng đó là quê nhà, là cuộc đời họ. Ông Hai cũng vậy, ông có tính hay khoe làng với toàn bộ niềm hãnh diện. “Ông nói về cái làng ấy một cách say mê và náo nức lạ thường. Hai mắt ông sáng hẳn lên, khuôn mặt biến chuyển sinh hoạt.” Tình yêu làng đã biến ông Hai thành một con người trọn vẹn khác so với một ông Hai bị gò bó, tù túng trong căn bếp tản cư.

Một nguồn sinh lực mới như dồi dào trong ông lúc đó. Tối này đến tối khác, ông nói đi nói lại về cái làng của ông. Kim Lân điểm nhịp mẩu chuyện bằng những lời trách móc ông hàng xóm nhãng ý không nghe chuyện, nhưng kỳ thực là tạo cho ta thấy rằng ông Hai không thực sự cần bác Thứ nghe, ông nói cho chính mình, nói tạo cho sướng miệng và cũng để thỏa nỗi nhớ làng. “Ông lại nghĩ về cái làng của ông, lại nghĩ đến những ngày cùng thao tác với đồng đội. […] Ông lại muốn về làng, lại muốn được cùng đồng đội đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá.” Những ký ức về làng xưa, xóm cũ trở thành niềm an ủi, động viên ông Hai mỗi một khi chán nản.

chỉ việc được ở lại làng, cùng chiến đấu với đồng đội thì như có một luồng sinh lực mới chảy dồi dào trong ông, và dù có khó khăn, khó nhọc, nguy hiểm đến bao nhiêu ông cũng chịu được. Hình Hình ảnh đó trọn vẹn trái ngược với ông Hai lúc nào thì cũng buồn chán, bức bối, không biết làm gì trong căn bếp tản cư. Thế nhưng đó cũng chỉ là hồi ức, một hồi ức vui tươi và đầy tự hào đến nỗi mỗi một khi nhớ lại, trong ông lại trào dâng một nỗi nhớ khôn nguôi : “Ông Hai nhớ cái làng, nhớ cái làng quá.” Với ông, ngôi làng của ông vốn đã là một điều gì đó vô cùng thiêng liêng và xinh tươi. Nay ở trong căn bếp tản cư chật hẹp, cái làng ấy lại càng đẹp hơn, trở thành một niềm mong ước, khao khát mãnh liệt. Điều đó trọn vẹn không phải phóng đại. Tâm sự của ông Hai là tâm sự của một người gắn bó với làng tha thiết, yêu làng bằng một niềm tự hào chân chính.

Tình yêu làng của ông Hai được thể hiện nổi trội và đậm nét nhất lúc ông nghe tin làng ông theo Tây. Như xét đánh ngang tai, ông từ chối tin vào điều đó. “Cổ ông lão nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như không thở được. Một lúc sau ông mới răn è è, nuốt một chiếc gì vướng ở cổ.” Nếu như tin dữ ấy là cái làng xinh tươi của ông bị đốt trụi, nhà cửa, ruộng vườn của ông bị cướp mất thì có lẽ ông cũng không đau khổ bằng tin làng mình theo Tây. Tội nghiệp ông lão vui tính, xởi lởi giờ đây phải “cúi gằm mặt đi thẳng”, “nước mắt ông cứ giàn ra”. Giá ông không thật yêu làng, không thật tự hào về làng thì ông dường như không thấy tủi nhục đến thế. Mấy chữ “cả làng chúng nó Việt gian theo Tây” như găm vào trái tim ông, vào niềm tự hào về cái làng mà ông yêu vô cùng.

toàn bộ những gì ông trân trọng giữ gìn trong tim giờ đây như đều sụp đổ tan tành. Ông không gật đầu đồng ý được thực sự ấy và đấu tranh nội tâm dữ dội. Lúc đầu là nghi ngại (“Nhưng sao lại nảy ra cái tin như vậy được ?), nhưng sau đó là đau đớn khi được biết những vật chứng rõ ràng (“Mà thằng chánh Bệu thì đích là người làng không sai rồi“). Phải thừa nhận cái tin đó, không thể nào tả được nỗi đau của ông lúc ấy. “Chao ôi ! Cực nhục chưa, cả làng Việt gian !” Có lẽ trong đời mình, ông Hai chưa từng chịu đựng hay thậm chí tưởng tượng được một nỗi đau, nỗi nhục như vậy.

Những tiếng ấy như thốt lên từ trái tim bị tổn thương, từ niềm tự hào bị chà đạp của ông, khiến cho người đọc cũng như cảm nhận được nỗi xót xa, tủi nhục của ông lúc ấy. Mà ông Hai đâu chỉ có đau cho mình, đau cho làng, mà ông còn đau cho những người đồng hương, đồng cảnh ngộ. “Lại còn bao nhiêu người làng, tan tác mỗi người một phương nữa, không biết họ đã rõ cái cơ sự này chưa ?” rất có thể những con người ấy trước kia có hiềm khích với ông, nhưng trước nỗi đau, nỗi nhục quá lớn này, tình yêu làng trỗi lên thật mạnh mẽ và uy lực và thức tỉnh tình đồng hương trong ông. Kim Lân đã rất tài tình khi sử dụng hàng loạt câu cảm, thắc mắc thường xuyên trong nghệ thuật và thẩm mỹ độc thoại nội tâm để lột tả sự đau khổ, xót xa, uất ức mà ông Hai phải chịu đựng. Lúc này đây, làng không chỉ là là nơi chôn rau cắt rốn nữa, mà là một chiếc gì đó lớn lao hơn, là lòng tự trọng, là danh dự.

Không những thế, tình yêu làng còn trở thành một nỗi ám Hình ảnh day dứt trong ông, buộc ông phải lựa chọn giữa làng và nước. Nếu lúc trước ông tự hào, ông thao thao bất tuyệt về làng mình bao nhiêu thì lúc này ông xấu hổ, trốn tránh bất nhiêu. Cái tin đồn quái ác kia trở thành một nỗi ám Hình ảnh, một nỗi sợ vô hình luôn luôn đè nặng lên tâm trí ông. “Một đám đông túm lại, ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa, ông cũng chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang để ý, người ta đang buôn chuyện đến “cái chuyện ấy”. Cứ thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam-nhông… là ông lủi ra một góc nhà, nín thít. Thôi lại chuyện ấy rồi !” Lẽ thường tình, khi người ta suy nghĩ quá nhiều về một điều gì đó, lúc nào ta cũng đều phải sở hữu cảm tưởng những người khác cũng vậy. Thế thì nỗi ám Hình ảnh và lo sợ của ông Hai phải lớn đến chừng nào để ông bị dằn vặt tới vậy ! Lòng yêu làng của ông phải lớn biết chừng nào!

Kim Lân đã diễn tả rất rõ ràng và thâm thúy tâm trạng nặng nề ấy, vì phiên bản thân tác giả cũng từng gặp tình hình tương tự. Ông Hai đã trải qua những giờ phút không thể đau đớn và tủi hổ hơn khi bị mụ chủ nhà nói móc nói máy để đuổi khéo. Người đọc như cảm nhận được từng lời từng chữ của mụ như xoáy sâu vào tình yêu làng vốn đã quá tổn thương của ông. Dù đã dứt khoát đi theo kháng chiến, ông vẫn không thể dứt bỏ tình cảm sâu đậm với làng quê, và vì thế mà ông càng đau xót, tủi hổ hơn.

sát bên tình yêu làng, nhân vật ông Hai còn ghi dấu trong mắt người đọc bằng lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến. Ông luôn luôn theo sát tin tức kháng chiến và tự hào về những chiến công mà nhân dân ta đã lập nên. “Ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá !” Nhưng đến khi phải lựa chọn giữa làng và nước, tình yêu ấy mới thể hiện rõ rệt. Dù bị tin đồn làng mình theo Tây dồn vào “tuyệt đường sinh sống”, ông vẫn nhất quyết không trở về làng. Đến đây, ta mới nắm vững về con người hay chuyện tưởng chừng rất giản dị, bộc trực kia. Tình yêu làng giờ đây đang trở thành tình yêu có ý thức, hòa nhập và lòng yêu nước. “Về làm gì cái làng ấy nữa. Về làng là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ.” Nhớ lại những tháng ngày đen tối bị đàn áp xưa kia, ông đã có quyết định rõ ràng, đúng đắn. Là người nông dân chân lấm tay bùn nhưng ông Hai có nhân thức cách mạng rõ ràng: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù.” Nhận thức rất mới này là một nét đặc trưng trong tính cách của ông Hai, khắc ghi sự thay đổi của người nông dân sau Cách mạng Tháng Tám.

Ông luôn luôn luôn luôn muốn được giãi bày nỗi lòng ấy của tôi. Tuy rỉ tai với đứa con, nhưng thực ra ông đang mượn lời đứa trẻ để bày tỏ tâm sự. Những gì đứa trẻ nói đó là những gì đang dâng trào trong tâm địa ông mà không nói ra được. “Ừ đúng rồi, ủng hộ cụ Hồ con nhỉ.” Ông Hai nói với đứa con như thể nói với đồng đội đồng chí, để minh oan cho tấm lòng thành thật của tôi, để nỗi khổ tâm trong tâm địa như vơi đi được đôi phần. Lòng yêu nước của ông thật giản dị nhưng vô cùng chân thành, thâm thúy và cảm động. Chính điều đó đã giúp ông chịu đựng được tin đồn quái ác về làng mình, vì ông có niềm tin vào cách mạng, vào kháng chiến. Từ đây, ông Hai nói riêng hay người nông dân nói chung, đã nhìn rộng hơn, xa hơn lũy tre làng. không chỉ là yêu làng, trong ông còn tồn tại một tình yêu lớn gấp nhiều lần – lòng yêu nước.

Đến khi tin làng chợ Dầu theo giặc được cải chính, tình yêu làng, yêu nước của ông Hai mới được vẽ lên hoàn hảo nhất. Ông Hai như sống lại. “Cái mặt buồn thỉu mọi ngày bỗng vui tươi, rạng rỡ hẳn lên.” Một lần nữa, tình yêu làng, yêu nước của ông được thể hiện một cách chân thực, cảm động. Nguồn sinh lực ngày nào lại trở về trong ông. Ông Hai lại là ông Hai xưa. Ông lại nói về làng mình, về “Tây nó đốt nhà tôi rồi, đốt nhẵn !” thú vui sướng của ông được thể hiện thật hồn nhiên, sống động và rất mãnh liệt. Có lẽ không một ai trên đời lại đi khoe, đi mừng việc nhà mình bị đốt như vậy. tuy nhiên với ông Hai, điều đó đâu có là gì so với thú vui khi thanh danh của làng được rửa.

Vì sự mất mát ấy cũng là sự việc hồi sinh của một làng Chợ Dầu mà ông hằng yêu và xứng đáng với tình yêu ấy: làng Chợ Dầu kháng chiến. Tình yêu làng là cơ sở, là biểu lộ hùng hồn nhất của tình yêu nước trong ông Hai. Quả đúng như nhà văn I-li-a Ê-ren-bua đã từng nói : “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê tạo ra sự lòng yêu tổ quốc.” Nếu so với lão Hạc của Nam Cao hay chị Dậu của Ngô Tất Tố trước Cách mạng tháng Tám – những người nông dân cả cuộc đời đầu tắt mặt tối trong ruộng vườn thì nhân vật ông Hai đã có nhận thức rõ ràng về kiểu cách mạng, về kháng chiến. Ông đã nhận được ra rằng: tổ quốc còn thì làng còn, tổ quốc mất thì làng cũng mất. Đây không chỉ là là sự việc thay đổi trong suy nghĩ người nông dân, mà còn là suy nghĩ của mỗi người dân Việt Nam thời điểm đó. Họ sẵn sàng hy sinh những cái riêng, những cái nhỏ vì sự nghiệp chung, vì cuộc kháng mặt trận kỳ của dân tộc. Họ không hề quên đi cội nguồn của tôi mà gìn giữ nơi ấy ở trong tim, trở thành động lực chiến đấu để giải phóng tổ quốc, giải phóng quê nhà.

Truyện ngắn “Làng” đã xây dựng thành công nhân vật ông Hai, đặc trưng qua trường hợp làng Chợ Dầu bị đồn là theo Tây. Nguyễn Minh Châu từng nói : “trường hợp là một loại sự kiện đặc trưng của đời sống, được sáng tạo ra theo hướng lạ hóa. Tại đó, vẻ đẹp nhân vật hiên ra sắc nét, ý nghĩa tư tưởng phát lộ toàn vẹn.” Kim Lân đã sáng tạo được một trường hợp truyện có tính căng thẳng để thử thách nhân vật. Nó đã cho ta thấy chiều sâu của nhân vật ông Hai, những nét tính cách, những chuyển biến trong nhận thức và tính cảm của ông, và hơn hết là tình yêu làng, yêu nước tha thiết. Nhà văn cũng vô cùng thành công trong nghệ thuật và thẩm mỹ miêu tả tâm lí nhân vật, khi thì miêu tả cử chỉ hành vi, khi thì độc thoại nội tâm, độc thoại, đối thoại để lột tả tính cách nhân vật. ngôn từ kể chuyện rất linh hoạt, tự nhiên, lúc dềnh dàng, lúc đột ngột tùy từng diễn biến. Dường như, tác giả vốn am hiểu cuộc sống đời thường nông thôn nên ngôn từ của ông Hai là khẩu ngữ, rất bình dị và thân thiện, đậm màu nông dân. Với nhân vật ông Hai, Kim Lân quả thực rất xứng đáng là một cây bút “quý hồ tinh, bất quý hồ đa”.

Nguyễn Đình Thi từng viết rằng: “Tác phẩm nghệ thuật và thẩm mỹ nào thì cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn ở thực tại. Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ. Anh gửi vào tác phẩm một lá thư, một lời nhắn nhủ, anh muốn đem một phần của tôi góp vào đời sống chung quanh.” Truyện ngắn “Làng” đã được viết nên từ những điều nhà văn từng trải nghiệm, khắc họa một cách chân thực nhất những tháng ngày đi tản cư của nhân dân miền Bắc trong buổi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, cũng như những chuyển biến trong nhận thức và tình cảm của họ.. trải qua nghệ thuật và thẩm mỹ xây dựng trường hợp truyện và miêu tả tâm lí, ngôn từ nhân vật, Kim Lân đã mang đến cho chính mình đọc nhân vật ông Hai với tình yêu làng quê và lòng yêu nước sâu đậm, thiết tha.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Hình ảnh minh họa (Nguồn internet)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button