Top List

Top 8 Bài văn phân tích đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” của Nguyễn Huy Tưởng (ADS)

Nguyễn Huy Tưởng (1912- 1960) là tác giả thành công ở 2 thể loại: tiểu thuyết và kịch. Ông có thiên hướng khai thác những đề tài lịch sử vẻ vang với văn phong giản dị, trong sáng, đôn hậu, thâm trầm, thâm thúy. Đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” thuộc hồi V vở kịch Vũ Như Tô – vở kịch năm hồi viết về một sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516-1517 dưới thời vua Lê Tương Dực hoàn thành năm 1941. Qua tấn thảm kịch của Vũ Như Tô, tác giả đã đề ra vấn đề thâm thúy, có ý nghĩa muôn thủa về mối quan hệ giữa nghệ thuật và thẩm mỹ với cuộc sống thường ngày, giữa lí tưởng nghệ thuật và thẩm mỹ thuần túy cao siêu muôn đời với lợi ích thiết thân và trực tiếp của nhân dân. Mời chúng ta tìm hiểu thêm một trong những bài văn phân tích đoạn trích mà gan dạ SEO đã tổng hợp trong nội dung bài viết tại đây.

ngữ điệu kịch trong tác phẩm điêu luyện, có tính tổng hợp cao, dùng ngữ điệu, hành vi của nhân vật để thể hiện tâm trạng, khắc họa tính cách, dẫn dắt đẩy xung đột kịch đến cao trào.
Là top 3 tiêu chuẩn mà gan dạ SEO.vn luôn luôn luôn luôn hướng tới để đem lại những thông tin hữu ích nhất cho xã hội

Bài văn phân tích đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” số 1

nói theo cách khác rằng kịch là một trong những thể loại văn học rực rỡ và trong nền kinjch Việt Nam không thể bỏ sót cái tên Nguyễn Huy Tưởng với vở kịch nổi tiếng “Vũ Như Tô”. đó là tác phẩm đa được nhà văn thể hiện ra những quan điểm của tớ về những mối quan hệ phức tạp giữa nghệ thuật và thẩm mỹ và cường quyền và đó là sự việc phức tạp giữa nghệ sĩ và nhân dân và không dừng lại ở đó đáng nói đó là văn hóa truyền thống dân tộc nữa. Và trong vở kịch “Vũ Như Tô” thì đoạn trích “Vĩnh biệt cửu trùng đài” là một trong những đoạn trich hay thể hiện rõ nhất thảm kịch cũng như quan niệm của tác giả được giử gắm qua đoạn trích”.

Vở kịch rực rỡ và tuyệt vời “Vũ Như Tô” sẽ là một vở nói về lịch sử vẻ vang gồm có năm hồi. Và rất có thể thấy đoạn trích “Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài” là một đoạn trích thuộc hồi năm của vở kịch này. Nhân vật chính củavở kịch đó là Vũ Như Tô. Ông được xây dựng lên đó là một nhà kiến trúc tài xuất sắc, ông luôn luôn có tính tình cương trực trọng nghĩa khinh tài. Lê Tương Dực được biết đến là một tên bạo chúa cũng đã sai cho Vũ Như Tô xây cửu trùng đài sao cho thật nguy nga làm cho hắn lấy nơi vui chơi với những cung tần mĩ nữ.

Và với vốn tính tình lại cương trực thẳng thắn thì nhân vật Vũ Như Tô dường như cũng đã từ chối sự sai khiến cho ấy mặc cho sự đe dọa về tính mạng. Thế nhưng, ta như thấy được Đan Thiềm một cô cung nữ tài sắc nhưng lại bị ruồng bỏ cũng như đã khuyên Vũ Như Tô xây cửu trùng đài để rất có thể góp sức cho nước nhà. Vì ở ông, ông lại khát khao và luôn luôn luôn luôn muốn góp sức cho nước nhà cho nên khi mà ông nghe thế ông quyết định xây Cửu Trùng Đài, thì lúc đó ông cũng đã dùng toàn tâm toàn lực để xây dựng. Nhưng nói theo cách khác rằng chính cái Cửu Trùng Đài ấy dường như cũng đã làm khổ nhân dân khiến cho họ không thể chịu nổi khổ nhục và quyết tâm nổi dậy. Vũ Như Tô đã trở nên giết còn một Cửu Trùng Đài nguy nga kia cũng đã trở nên thiêu dụi trọn vẹn.

Bởi xây dựng được Cửu trùng đài thì đã có biết bao xương mu của nhân dân đã đổ xuống . rất có thể thấy đó là những xích míc của đoạn trích này nói theo cách khác được đó là khi nhân dân lúc này dường như lại không thể chịu nổi nữa bèn đứng lên nổi loạn. Và ta như rất có thể thấy được những người đứng đầu cho cuộc nổi loạn ấy đó là Trịnh Duy Khản. Và rất có thể nhận định được rằng đó là xích míc thứ nhất và đồng thời đây cũng đó là xích míc trực tiếp và thực tiễn nhất. Và thật đau xót khi nhân dân phải sống trong cảnh lầm than và cơ cực biết bao nhiêu.

Hơn thế lại còn phải phục vụ biết bao công sức của con người để giúp sức cho công việc xây dựng Cửu Trùng Đài cho tên vua vô lại ăn chơi hưởng lạc. Và chính điều này thì không một người dân nào mà không phẫn nộ. Nên rất có thể thấy được xích míc ở đây đó đó là xích míc giữ vua quan và nhân dân. Và xích míc này chỉ được ggiair quyết khi mà kết thúc bằng một cuộc đứng lên chiến đấu. Nhân dân nổi dậy bắt giết Lê Tương Dực và cả những cung tần mỹ nữ. Rồi cả DDan Thiềm cũng như cả Vũ Như Tô hay cả Cửu trùng đài cũng đã trở nên thiêu dụi.

Và nói theo cách khác xích míc thứ hai trong đoạn trích này không đâu khác đó đó là xích míc Một trong những quan niệm nghệ thuật và thẩm mỹ thuần túy lâu lăm so với toàn bộ những lợi ích thiết thực của quần chúng nhân dân trong việc xây dựng lên một Cửu Trùng Đài. rất có thể thấy được trong tác phẩm này dường như ta lại thấy Vũ Như Tô là một người nghệ sĩ và ông lại rất có tâm và hết lòng vì nghệ thuật và thẩm mỹ. Có lẽ chính vì thế mà ông luôn luôn luôn luôn muốn góp sức cho nước nhà mình những công trình xây dựng nghệ thuật và thẩm mỹ đẹp tươi.

Thế nhưng phiên bản thân ông đó là một người nghệ sĩ ông lại như không nhận thức cho ra được mối quan hệ khăng khít giữa nghệ thuật và thẩm mỹ và cả đời sống và làm việc cho nên chính ông cũng đã mắc sai lầm và dẫn tới cái chết thương tâm. Hay ở cả nhân vật Đan Thiềm cô đã cho lời khuyên Vũ Như Tô nhưng lại không hề vì một mục đích nào khác. Cô như một người bạn tri kỷ của Vũ Như Tô những cũng chiisnh vì không nhận thức được mối quan hệ đó nên cũng đã có kết cục thảm hại.

Qủa thật Cửu Trùng Đài sẽ là một công trình xây dựng nghệ thuật và thẩm mỹ lớn vì vậy cho nên nó rất tiêu tốn một lượng ngân khố của vương quốc. Mà dường như toàn bộ ngân khố vương quốc lại đó là nhân dân làm ra chứ phải là một ai hết. Chính vì lẽ này mà việc xây dựng càng lớn, càng nguy nga thì nhân dân càng khổ nhiều hơn thế. nói theo cách khác cửu trùng đài được xâu dựng bằng xương máu của những người đan vậy. Còn Vũ Như Tô là một người nghệ sĩ tài ba, ông tài năng thật đó nhưng lại xa dời thực tiễn, chhir lo cho lý tưởng của tớ cho nên nhận lấy kết quả đáng buồn.

nói theo cách khác rằng trải qua đoạn trích này ta như thấy nó có không thiếu những yếu tố để làm ra một vở kịch mê hoặc, dường như toàn bộ những xung đột kịch được nhà văn tổ chức lôi cuốn mê hoặc. Chính cái không khí nhịp điệu thì dường như cứ tăng tiến từ từ lên tạo thành một tính chất gay gắt của xung đột kịch. Nhà văn cũng đã thật tài tình khi thắt núi sau nó lại mở nút nhưng kết cục vẫn là thảm kịch. Qua đây Nguyễn Huy Tưởng như cũng đã thể hiện quan niệm nghệ thuật và thẩm mỹ phải nối sát với cuộc sống thường ngày đời thường. nghệ thuật và thẩm mỹ chân chính nhất thì không thể tách rời cuộc sống thường ngày.

Hình ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” số 2

Nguyễn Huy Tưởng (1912 – 1960) xuất thân trong một mái ấm gia đình Nho giáo ở làng Dục Tú, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Dục Tú, huyện Đông Anh, thủ đô hà nội). Năm 1943, ông tham gia Hội Văn hoá cứu quốc do Đảng lãnh đạo và là đại biểu tham gia Quốc dân Đại hội ở Tận Trào tháng Tám năm 1945. Trong sáng tác, Nguyễn Huy Tưởng có thiên hướng khai thác đề tài lịch sử vẻ vang và có đóng góp nổi trội ở những thể loại tiểu thuyết và kịch. Văn phong của ông giản dị, trong sáng và thâm trầm, thâm thúy. Năm 1996, ông được Nhà nước tặng phần thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật và thẩm mỹ.

Tác phẩm chính: những vở kịch Vũ Như Tô (1941), Bắc Sơn (1946), Những người ở lại (1948), kịch phiên bản phim Lũy hoa (1960); những tiểu thuyết Đêm hội Long Trì (1942), An Tư (1945), Sống mãi với Thủ đổ (1961); kí: Kí sự Cao – Lạng (1951),… Vũ Như Tô là vở kịch rực rỡ của Nguyễn Huy Tưởng. Qua tấn thảm kịch của Vũ Như Tô, tác giả đề ra những vấn đề thâm thúy, có ý nghĩa muôn thuở về mối quan hệ giữa nghệ thuật và thẩm mỹ với cuộc sống thường ngày, giữa lí tưởng nghệ thuật và thẩm mỹ cao siêu, thuần túy của muôn đời với lợi ích thiết thân và trực tiếp của nhân dân.

Vũ Như Tô – một kiến trúc sư thiên tài bị vua Lê Tương Dực bắt xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi hưởng lạc, vui chơi với những cung nữ. vốn là một nghệ sĩ chân chính gắn bó với nhân dân, cho nên tuy nhiên bị Lê Tương Dực dọa giết, Vũ Như Tô vẫn ngang nhiên chửi mắng tên hôn quân ấy và kiên quyết từ chối xây Cửu Trùng Đài (hồi I). Đan Thiềm, một cung nữ đã thuyết phục Vũ Như Tô đồng ý yêu Cầu của Lê Tương Dực, lợi dụng quyền thế và tiền bạc của hắn, trổ hết tài năng để xây dựng cho nước nhà một tòa thành tháp vĩ đại bền như trăng sao, rất có thể tranh tinh xảo với hóa công làm cho dân ta nghìn thu còn hãnh diện.

Theo lời khuyên, Vũ Như Tô đã thay đổi thái độ, đồng ý xây cửu Trùng Đài. Từ đó, ông dồn hết tâm trí và bằng mọi giá xây dựng tòa đài sao cho thật hùng vĩ, tráng lệ. Tuy nhiên, ông đã vô tình gây biết bao tai hoa cho nhân dân. Để xây dựng Cửu Trùng Đài, triều đình ra lệnh tăng thêm sưu thuế, bắt thêm thợ xuất sắc, tróc nã, hành hạ những người chống đối. Dân phẫn nộ vua vì vua làm cho dân cùng, nước kiệt; thợ oán Vũ Như Tô bởi nhiều người đã chết vì tai nạn, vì ông cho chém đầu những kẻ chạy trốn. Công cuộc xây dựng càng gần thành công thì xích míc giữa tập đoàn lớn thống trị xa hoa trụy lạc với dân chúng nghèo khổ, giữa Vũ Như Tô với những người thợ tay nghề cao và người lao động mà ông hằng yêu mến càng căng thẳng, gay gắt (hồi II, III, IV).

Lợi dụng tình hình rối ren và xích míc ấy, Quận công Trịnh Duy Sản – kẻ cầm đầu phe đối lập trong triều đình đã dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ làm phản, giết vua Lê Tương Dực, Vũ Như Tô, Đan Thiềm. Cửu Trùng Đài bị chính những người thợ đập phá và thiêu hủy (hồi V). Đoạn Vĩnh biệt Cữu Trùng Đài là hồi V của vở kịch, thể hiện hiểu biết thâm thúy về nghệ thuật và thẩm mỹ kịch của Nguyễn Huy Tưởng: ngữ điệu kịch điêu luyện, có tính tổng hợp cao; dùng ngữ điệu, hành vi của nhân vật để khắc họa tính cách, miêu tả tâm trạng, dẫn dắt và đẩy xung đột kịch đến cao trào.

Trong cung cấm, Đan Thiềm đột ngột hớt hơ hớt hải chạy vào, mặt cắt không thể hột máu, giục giã Vũ Như Tô hãy trốn mau bởi loạn đến nơi rồi. Dân gian đói kém nổi lên, quận công Trịnh Duy Sản mượn tiếng đi dẹp giặc rồi quay binh về nổi loạn. Nhưng Vũ Như Tô kiên quyết không chịu rời CửuTrùng Đài một bước. Vừa lúc đó, Nguyễn Vũ lật đật chạy vào hỏi tình hình phiền lòng cho tính mạng của phòng vua. Lê Trung Mại xuất hiện thông tin Duy Sản đã đốt lửa hiệu giả báo có giặc, nhà vua lẻn ra cửa Bảo Khánh chạy giặc thì bị Ngô Hạch võ sĩ của Duy Sản đâm chết. Khâm Đức hoàng hậu hay tin cũng nhảy vào lửa tự thiêu. Nguyễn Vũ than khóc và rút dao tự tử. Một bọn nội gián khác thông tin thêm sau thời điểm giết vua Lê Tương Dực, triều đình đã lập vua khác lên ngôi.

Võ Tả Hầu là Phùng Mai đứng lên mắng quân phản nghịch đã trở nên chém đầu ngay lập tức. An Hòa Hầu ở bến Bồ Đề kéo quân về đốt phá kinh thành. Thợ xậy Cửu Trùng Đài quá nửa theo về quân phản nghịch. Đan Thiềm tiếp tục giục Vũ Như Tô đi trốn nhưng ông vẫn kiên quyết ở lại. Quân khởi loạn kéo vào. Đan Thiềm không thể xin tha được cho Vũ Như Tô, nàng bị chúng kéo đi nên chi còn biết Xin cùng ông vĩnh biệt Cửu Trùng Đài. Vũ Như Tô khăng khăng cho là mình vô tội, xin vào thưa với chủ tướng ý nguyện tốt đẹp khi xây Cửu Trùng Đài nhưng quân lính không nghe và cho thấy chính An Hòa Hầu đã ra lệnh đốt sạch Cửu Trùng Đài. Vũ Như Tô đau đớn, vỡ mộng, chua chát đồng ý cái chết bi thảm.

Vũ Như Tô và Đan Thiềm coi Cửu Trùng Đài là cả phần xác lẫn phần hồn của cuộc đời mình. Vì nó mà Vũ Như Tô đồng ý thao tác làm việc cho hôn quân bạo chúa. Vì nó mà dù bị thương trên công trường, ông vẫn tiếp tục lãnh đạo công việc. Cũng vì nó, để giữ gìn kỉ luật, ông buộc phải trị tội những người thợ bỏ trốn. Cũng lại vì nó mà ông quyết ở lại trong cung cấm, giữa cơn biến loạn để bảo vệ không phải mạng sống của tớ mà là bảo vệ Cửu Trùng Đài – sinh mạng nghệ thuật và thẩm mỹ của cả đời ông.

Tính cách nổi trội nhất ở Vũ Như Tô là tính cách của người nghệ sĩ tài hoa hiện thân cho niềm khao khát và đam mê sáng tạo nét đẹp. Nhưng trong mội yếu tố hoàn cảnh lịch sử vẻ vang ví dụ, thì nét đẹp ấy thành ra phù phiếm. Nó sang trọng, siêu đẳng, thậm chí cao siêu và đẫm máu như một bông hoa ác. Vì thế, đi đến tận cùng niềm đam mê, khao khát ấy, Vũ Như Tô tất phải đương đầu với thảm kịch đau đớn của đời mình: ông trở thành quân thù của dân chúng, thợ thuyền mà không hay biết.

Tài ba của Vũ Như Tô được nói tới việc chủ yếu ở những hồi kịch trước, trải qua hành vi của ông và nhất là qua lời của những nhân vật khác nói về ông. Tài nghệ của ông đạt đến mức siêu phàm, được Đan Thiềm mệnh danh là một thiên tài ngàn năm chưa dễ có một, rất có thể sai khiến cho gạch đá như viên tưởng cầm quân. Trong hồi thứ V, những phiền lòng, toan tính và thái độ của Đan Thiềm khi nói về Vũ Như Tô đủ cho thấy cái tài ấy quả là không nhiều: tài kia không nên để uổng..; Ông mà có mệnh hệ nào thì VN không thể ai điểm tô nữa…

Đừng để phi tài trời. Hồi V không nói nhiều đến tài năng của nhân vật (chỉ có Đan Thiềm nhắc đến) mà đặt Vũ Như Tô vào việc tìm kiếm một câu vấn đáp: Việc mình nhận xây Cửu Trùng Đài là đúng hay sai? Có công hay có tội? Nhưng Vũ Như Tô không trả tời được thỏa đáng thắc mắc đó bởi ông chỉ đứng trên lập trường của người nghệ sĩ mà không đứng trên lập trường của nhân dân, đứng trên lập trường nét đẹp mà không đứng trên lập trường điều thiện. hành vi của ông không hướng tới sự hòa giải mà thử thách và đồng ý sự tàn phá. Vũ Như Tô đã từng tranh tinh xảo vôi hóa công, giờ lại bướng bỉnh tranh phải – trái với số phận và với cuộc đời. hành vi kịch hướng vào cuộc đua tranh này và thể hiện triệu tập qua diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô.

Vũ Nhự Tô vì chìm đắm trong khao khát, đam mê nét đẹp mà trở nên mơ mộng và ảo tưởng. Giấc mộng ấy chính thức từ khi ông quyết định nhận lời xây Cửu Trùng Đài cho Lê Tương Dực, mượn tay bạo chúa để xây một công trình xây dựng tô điểm cho đời. Càng sáng suốt trong sáng tạo thiết kế, thi công Cửu Trùng Đài bao nhiêu, Vũ Như Tô càng xa rời thực tiễn bấy nhiêu.

trong cả khi thực sự phũ phàng của Cơn biến loạn dội đến, Đan Thiềm nỗ lực kéo ông ra khỏi giấc mộng bằng thông tin kinh hoàng là loạn đến nơi rồi và bằng phản ứng dữ dội của dân chúng so với ông: ai cũng cho ông là thủ phạm. Vua xa xỉ là vì ông, công khố hao hụt là vì ông, dân gian lầm than là vì ông, man di oán giận là vì ông, thần nhân trách móc là vì ông:., mà Vũ Như Tô vẫn không tỉnh, vẫn cho là họ hiểu nhầm.

Tận mắt tận mắt chứng kiến Nguyễn Vũ tự sát, nghe tên nội giám thông tin kẻ phá, người đốt cửu Trùng Đài, Vũ Như Tô vẫn cho là điều vô Ií. Nghe tiếng quân lính reo hò truy tìm mình để phanh thây, Vũ Như Tô vẫn cố đấu lí với số phận và cuộc đời: Có lí gì để họ giết tôi ? Đứng trước quân khởi loạn gươm giáo sáng lòe, Vũ Như Tô tự trấn an: Đời ta chưa tận, mệnh ta chưa cùng. Ta sẽ xây một tòa đài vĩ đại để tạ lòng tri kỉ. Bị ra lệnh dẫn về trình chủ tướng, Vũ Như Tô vẫn hy vọng sẽ rất có thể phân trần giảng giải cho những người đời biết rõ nguyện vọng của ta. Ông dường như không hề nghe thấy tiếng cười ầm ĩ và lời quát tháo của quân lính. Mày không biết mấy nghìn người chết vì Cửu Trùng Đài, mẹ mất con, vợ mất ông xã vì mày đó ư? Người ta oán mày còn hơn oán quỷ. Ông vẫn say sưa trong giấc mộng Cửu Trùng Đài: Vài năm nữa, đài Cửu Trùng hoàn thành, cao siêu, huy hoàng, giữa cõi trần lao lực, có một cảnh Bồng Lai…

Chỉ đến khi kinh thành phát hỏa, quân lính cho hay đó là lệnh của An Hòa Hầu và tận mắt tận mắt chứng kiến ánh lửa sáng rực, cả tàn than, bụi khói bay vào, Vũ Như Tô mới rú lên kinh hoàng, vô vọng : Đốt thực rồi! Đốt thực rồi Ị ôi đảng ác ! Ôi muôn phần căm giận! Trời ơi! Phú cho ta cái tài làm gì ? ôi mộng lớn ! Ôi Đan Thiềm ! Ôi Cửu Trùng Đài! Rơi xuống từ một cửu Trùng Đài vời vợi độ cao của mơ màng và ảo vọng, nỗi đau vỡ mộng trong Vũ Như Tô hoá thành tiếng kêu bi thiết, não nùng, khắc khoải. Cửu Trùng Đài đang trở thành một đài lửa rừng rực trong kinh thành Thăng Long đầy biến động, Vũ Như Tô đã chết trước lúc ra pháp trường. Mộng lớn, Đan Thiềm, Cửu Trùng Đài toàn bộ nối tiếp nhau dội xuống những âm thanh của đau thương tang tóc. Nỗi đau mất mát đã hòa vào làm một, trở nên tột cùng. Âm thanh ấy trở thành âm thánh chủ đạo dội ngược lên toàn bộ những hồi trước của vở kịch.

Khắc khoải trong tâm người đọc vẫn là những dấu chấm hỏi, những câu cảm thán thốt ra từ đỉnh điểm của cảm xúc, từ cao trào của xung đột trong Vũ Như Tô: Ta tội gì? Ta vô tội! ôi mộng lớn Ị ôi Đan Thiềm Ị Ôi Cửu Trùng Đài! xúc cảm ngột ngạt, bức bối tưởng như còn nguyên vẹn khi Nguyễn Huy Tưởng viết lời đề tựa: ôi khô khan! ôi gay gắt! thảm kịch Vũ Như Tô đã thức tỉnh ý thức của chúng ta về vấn đề muôn thuở: mối quan hệ hữu cơ giữa nghệ thuật và thẩm mỹ và cuộc sống thường ngày.

trái lại với nhận thức của Vũ Như Tô, trong mắt dân chúng, Cửu Trùng Đài là hiện thân của thói ăn chơi xa xỉ, hiện thân của tội ác. Cửu Trùng Đài và phụ thân đẻ của nó – Vũ Như Tô – đó là quân thù của họ. Vũ Như Tô, Cửu Trùng Đài, lũ cung nữ… bị quân phản nghịch xếp chung vào một trong những hạng cần phải trị tội. Bởi vậy Cửu Trùng Đài bị thiêu cháy, Vũ Như Tô bị giải ra pháp trường và dân chúng reo hò, ăn mừng như ăn mừng chiến thẳng lớn.

Điểu gì đã tạo sự khác lạ đến đối lập khi nhìn nhận và reviews về công trình xây dựng cửu Trùng Đài mà kiến trúc sư Vũ Như Tô từng kì vọng: móng phải đào sâu xuống dưới âm ti, nóc phải vờn mây?Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài với ao ước điểm tô cho nước nhà, để lại cho dân tộc một công trình xây dựng là hiện thân của nét đẹp cao siêu, huy hoàng, đem hết tài ra xây cho nòi giống một tòa đài hoa lệ, thử thách cả những công trình xây dựng sau trước, tranh tinh xảo với Hóa công. Ao ước, khao khát ấy là cao siêu, là chân chính, bởi xuất phát điểm của nó là từ một chiếc Tâm tha thiết với dân tộc. Cho nên ngay từ trên đầu, nhiều người đã hiểu và ủng hộ Vũ Như Tô. Nhưng đài càng xây cao, mạng người càng rẻ mạt, dân chúng càng điêu đứng, bọn hôn quân bạo chúa càng ra tay vơ vét. Cửu Trùng Đài đang trở thành đại hoạ, gây ra bao khốn khổ điêu linh, thành một đóa hoa ác, thành hiện thân cho thói xa hoa hưởng lạc trên xương máu của nhân dân. Và tất nhiên, trong mắt nhân dân, Vũ Như Tô trở thành quân thù phải đền tội.

Trái lại, Vũ Nhự Tô vẫn không thể thoát ra khỏi trạng thái mơ màng, ảo vọng. Ông không tin rằng công việc cao siêu mình đang làm lại rất có thể bị xem là tội ác, cũng không thể tin sự quang minh chính đại của tớ lại bị người đời rẻ rúng, nghi ngờ đến thế. Sự vỡ mộng của Vũ Như Tô vì vậy mà đau đớn, kinh hoàng gấp bội so vớt Đan Thiềm. Những tiếng kêu thống thiết sau cuối của Vũ Như Tô khi ngọn lửa oan nghiệt đang bùng bùng thiêu trụi Cửu Trùng Đài, trước lúc tác giả của nó bị dẫn ra pháp trường dường như còn vang vọng đến lúc này. Trong tiếng kêu ấy, mộng lớn, Đan Thiềm, Cửu Trùng Đài đã được Vũ Như Tô đặt tiếp nối nhau, nhiều nỗi đau mất mát hòa nhập làm một, thành nỗi đau tột cùng của người nghệ sỉ tài ba.

Nguyễn Huy Tưởng đã viết trong lời đề tựa: cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiền). Bệnh Đan Thiềm đó là bệnh đam mê, trân trọng, nâng niu nét đẹp, Cái Tài, bệnh của những kẻ biệt nhơn liên tài. Cái Tài mà Đan Thiềm mê đắm, không quản ngại những điều thị phi, quên cả sự nguy hiểm của phiên bản thân để bảo vệ không phải là cái Tài thường thì mà là cái Tài siêu việt. Cầm bút chẳng qua cùng với bệnh Đan mềm, lời đề tựa đó đã cho chúng ta thấy tấm lòng trân trọng, cảm phục của phòng văn Nguyễn Huy Tưởng trước hoài bão, khát vọng to lớn của Vũ Như Tô.

Đan Thiềm rất có thể quên mình để khích lệ, bảo vệ tài năng đặc trưng của Vũ Như Tô, nhưng nàng luôn luôn tỉnh táo, sáng suốt trong mọi trường hợp vì nàng hiểu người, hiểu đời, thức thời, quyến rũ và mềm mại và dễ thích ứng với yếu tố hoàn cảnh hơn Vũ Như Tô. Hai lần Đan Thiềm khuyên nhủ Vũ Như Tô đều hết sức sáng suốt, nhưng lần thứ nhất lời khuyên có hiệu lực thực thi hiện hành; lần thứ hai thì không và thảm kịch,của nàng chủ yếu gắn với thất bại này. Tất nhiên, nàng chỉ đau xót và tiếc thay cho Vũ Như Tô chứ không oán trách ông. Giữa nàng và người đồng bệnh Vũ Như Tô vẫn có một khoảng cách không thể vượt qua.

Đan Thiềm là người đã khuyên Vũ Như Tô ở lại nhận lời xây dựng Cửu Trùng Đài trong hồi I, giờ đây lại thuyết phục Vũ Như tô hãy trốn đi. Cả hai lần khuyên đó đều sở hữu ý nghĩa bảo vệ Cái Tài, nét đẹp: Khi trước trốn đi thì ông nguy, lúc này trốn đi thì ông thoát chết. Khuyên Vũ Như Tô trốn đi bởi Đan Thiềm đã đau đớn nhận ra thất bại của giấc mộng lớn Cửu Trùng Đài. Mối quan tâm của nàng lúc này không phải là Cửu Trùng Đài mà là sự việc sống chết của Vũ Như Tô. Trong hồi thứ V, có đến gần hai chục lần nàng thúc giục Vũ Như Tô trốn đi, lánh đi, đi đi, chạy đi. Trong cơn nguy biến, những điệp khúc đó được nhắc đi nhắc lại một cách gấp gáp, hối thúc. Cùng với ngữ điệu là cử chỉ, nét mặt, góc nhìnmắt nhìn hốt hoảng, phiền lòng. Đan Thiềm đã hớt hơ hớt hải, mặt cắt không thể giọt máu. Lời giục giã Vũ Như Tô trốn chạy nàng nổi gấp gáp đứt quãng trong hơi thở hổn hển. Có những câu như là lời van xin khẩn thiết và quyết liệt: Ông nghe tôi! Ông trốn đi ! Ông nghe tôi! Ông phải trốn đi mới đượcỊ Tránh điỊ Trốn điỊ Đợi thời là thượng sách! Đừng để phí tài trời! Trốn đi!

Đến khi có trốn cũng không được nữa, Đan Thiềm tìm mọi cách van xin tha tội cho Vũ Như Tô. Có đến bốn lần nàng nhắc lại yêu cầu khẩn thiết đó, nàng đem cả tính mạng mình ra đánh đổi: Tướng quân hãy nghe lời tôi, đừng phạm vào tội ác. Đừng giết ông Cả. Kẻo tướng quân mang hận về muôn đời! Tha cho ông Cả. Tôi xin chịu chết! Kết thúc lớp kịch thứ V, chỉ từ tiếng kêu thảng thốt, đau đớn, nghẹn ngào, nức nở của Đan Thiềm: ông Cả ! Đài lớn tan tành! ông cả ơi Ị Xin cùng ông vĩnh biệt! Giấc mộng lớn giờ đấy mới thực sự tan tành. nét đẹp, Cái Tài, toàn bộ đều thành tro bụi trong cơn biến loạn. Mới nỗ lực gìn giữ, bảo vệ đều không thành, Xin cùng ông vĩnh biệt!Câu nói sau cuối của Đan Thiềm nói lời vĩnh biệt mãi mãi với Như Tô và Cửu Trùng Đài, vĩnh biệt một giấc mộng nghệ thuật và thẩm mỹ lớn lao, đẹp tươi trong máu và nước mắt.

Qua diễn biến của vở kịch, ta thấy thể hiện hai xích míc. xích míc thứ nhất là xích míc giữa đời sống xa hoa, trụy lạc của bọn tham quan bạo chúa với đời sống cơ cực, thống khổ của nhân dân lao động (nói gọn lại là xích míc giữa lợi ích của bậc chúa với quyền sống của dân chúng, tất yếu sẽ dẫn đến việc dân chúng nổi dậy diệt trừ tên bạo chúa và toàn bộ những kẻ bị xem là cùng phe phái của hắn ở hồi cuối của vở kịch).

xích míc này chủ yếu thể hiện ở những hồi trước của vở kịch và đã được đẩy thành cao trào trong hồi cuối. quy trình phát triển của xích míc đã chỉ ra tính chất tất yếu của hồi thứ V. Tóm tắt vở kịch cho thấy Lê Tương Dực vốn không phải là một ông vua thương dân, thương nước. Vua cho xây Cửu Trùng Đài tráng lệ là để mình cùng người đẹp Kim Phượng và lũ cung nữ ăn chơi hưởng lạc. Để xây Cửu Trùng Đài, vua ra lệnh bắt thuế, tróc thợ. Dân đói khát, điêu đứng vì mất mùa, càng khổ thêm vì vua đòi thuế một thì quan bổ gấp rất nhiều lần. Thợ thuyền thao tác làm việc vất vả, nguy hiểm, lại bị ăn chặn nên đói khát, chết vì bệnh dịch và vì tai nạn.

Trong những hồi trước, giữa tiếng đá đổ ghê người trên công trường xây dựng, nhiều người chết không thể lấy được xác, mùi xú uế bốc lên tới mức ngạt thở, thế mà vẳng từ xa lại là tiếng đàn địch, tiếng reo hò của vua quan và lũ cung nữ đang đánh trận giả bên Hồ Tây. Như vậy hỏi làm sao xã hôi lại không loạn, không biến ? đó là lúc tức nước vỡ bờ, dân nổi can qua, những phe phái nổi lên tranh giành quyền lực tối cao. Trong triều, ngoài nội, đâu đâu cũng loạn. xích míc đã phát triển thành xung đột, thành cao trào. Kết quả là hôn quân Lê Tương Dực bị Trịnh Duy sản giết chết. Nguyễn Vũ tự sát trong trò hề ngu trung, hoàng hậu nhảy vào lửa tự thiêu, Kim Phượng và đám cung nữ bị bắt bớ, nhục mạ cửu Trùng Đài, hiện thân cho tham vọng ăn chơi của Lê Tương Đực bị đốt thành tro bụi. Tiếc rằng cuộc nổi dậy ấy không mang lại điếu gì tốt đẹp hơn cho dân chúng bởi giang sơn sẽ rơi vào tay những kẻ cầm đầu cuộc phản loạn (tức phe phái của Trịnh Duy Sản) mà thực tiễn cũng chẳng có gì đáng tin cậy.

xích míc thứ hai là xích míc giữa niềm khao khát hiến dâng toàn bộ cho nghệ thuật và thẩm mỹ của người nghệ sĩ với lợi ích trực tiếp và thiết thực của nhân dân. xích míc này xuất phát từ nguyên nhân sâu xa của thảm kịch: trong xã hội cũ, người nghệ sĩ thiên tài không tồn tại ĐK sáng tạo, không thể thi thố tài năng. Trên thực tiễn, anh ta vẫn chỉ là một gã thợ thủ công vô danh tiểu tốt. Vì thế khi biết rằng rất có thể mượn tay bạo chúa Lê Tương Dực để tiến hành được hoài bão của tớ thì Vũ Như Tô sẵn sàng đồng ý toàn bộ, kể cả khi phải trả bằng cồng sức, tiền bạc của nhân dân, bằng mồ hôi, xương máu của những người thợ. Chính niềm khao khát vô biên đã khiến cho người nghệ sĩ đắm chìm trong mơ mộng, đẩy Vũ Như Tô đến vị thế đối nghịch với dân chúng. Dù muốn hay là không, Vũ Như Tô đã bất đắc dĩ trở thành quân thù của nhân dân.

Cuối vở Kịch, dân chúng không chỉ là nguyền rủa tác giả cửu Trùng Đồi mà còn nghe theo lời của những kẻ cầm đầu cuộc nổi loạn đốt phá tan tành Cửu Trùng Đài và trừng phạt tác giả của nó. đó là lúc xích míc, xung đột kịch đã lên tới mức đỉnh điểm. Nếu như trong những hồi đầu, nó chi là xích míc tiềm ẩn, có vẻ mờ nhạt, thấp thoáng đằng sau xích míc thứ nhất, thì giờ đây, nó hầu như đã nhập vào làm một với xích míc thứ nhất. Thậm chí người dân hầu như không mấy quan tâm đến việc trả thù bạo chúa Lê Tương Dực vì việc này đã có phe phái của Trịnh Duy Sản đảm nhiệm, mà chỉ chăm chăm truy diệt (phanh thây) Vũ Như Tô và người cung nữ “đồng bệnh” với ông là Đan Thiềm.

những xích míc nói chung thường chi rất có thể xử lý bằng hai cách: hoặc triệt tiêu (phủ định dứt khoát hẳn một phía, để thắng lợi cho phía kia), hoặc hoà giải (điều hòa, cải biến cả hai phía). ví dụ nổi bật, với xích míc thứ nhất, nhân dân nổi dậy giết bạo chúa là xong, nhưng xích míc thứ hai, chỉ rất có thể xử lý theo cách hoà giải. Thế mà xem ra đang không tồn tại một cuộc hòa giải nào. thời cơ duy nhất để chờ hoà giải là Vũ Như Tô phải tạm trốn đi, chờ thời. Nhưng Vũ Như Tô vừa mù quáng vừa cố chấp nên thời cơ này bị bỏ qua. Ở đây, dân chúng còn hồ đồ, mù quáng hơn cả Vũ Như Tô. Họ những tưởng đốt Cửu Trùng Đài là xong xuôi mọi sự. Cửu Trùng Đài bị đốt, nhưng Vũ Như Tô vẫn thiếu hiểu biết gì và không hề quan tâm đến lợi ích thiết thực của dân chúng. Ông đi ra pháp trường, bình thản nhận cái chết. Hai giá trị: nét đẹp và điều thiện đang không thể hoà hợp, chung sống với nhau. nét đẹp bị tiêu diệt thì điều thiện cũng không thể đất sống.

xích míc và tính khồng dứt khoát trong cách xử lý xích míc của tác giả được thể hiện triệu tập trong hồi cuối của vở kịch. Cửu Trùng Đài bị đốt cháy, dân chúng trước sau vẫn thiếu hiểu biết gì về việc sáng tạo của nghệ sĩ. Lúc trước, họ nguyền rủa việc xây Cửu Trùng Đài, giờ đây, họ hả hê đốt phá. Họ càng thiếu hiểu biết nổi Đan Thiềm, Vũ Như Tô cũng như mộng lớn của hai nhân vật – hiện thân cho Tài – sắc này. Về phía khác, Đan Thiềm không cứu được Vũ Như Tô bằng lời khuyên của nàng, tuy nhiên trong mắt Vũ Như Tô, nàng là người tri kỉ, lại là viên ngọc quý, trí sáng như vầng nhật nguyệt Vũ Như Tô không thể và không khi nào hiểu được việc làm của dân chúng và phe phái nổi loạn, Nếu Vũ Như Tô nghe lời Đan Thiềm, trốn đi thì rất có thể xích míc sẽ được xử lý theo một hướng khác chăng?

Thực ra, đó là xích míc có lẽ không khi nào và không tồn tại ai xử lý cho thật dứt khoát, ổn thỏa được. cũng chính vì nó mang tính chất phổ quát và mang tầm quả đât: thực tiễn là biểu lộ của xích míc giữa nghệ sĩ và nhân dân, giữa nét đẹp (thuần tuý, siêu đẳng) và điều thiện trong một trong những yếu tố hoàn cảnh, trường hợp đặc trưng. xích míc này chỉ rất có thể xử lý ổn thoả khi đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân cùng yêu cầu về nét đẹp được nâng cao.

ngữ điệu kịch trong đoạn trích hàm súc và giàu ý nghĩa. Tác giả đã dẫn dắt thành công những xung đột kịch, thể hiện tính cách, tâm trạng nhân vật trải qua ngữ điệu và hành vi. Diễn biến kịch xảy ra rất nhanh trong nhịp điệu bão tố. những lớp kịch ngắn, thay đổi liên tục, lời thoại gấp gáp. Tiếng reo, tiếng thét liên tục vang ra từ hậu trường thêm phần tạo thành một không khí đầy bạo lực kinh hoàng, một bức tranh bi tráng. Việc đặt nhân vật trong không khí một cung cấm với những tên đất, tên người ví dụ quá nhiều có yếu tố lịch sử vẻ vang làm cho vở kịch mang đậm không khí của hiện thực thời đại. Trong lời đề tựa viết một năm sau thời điểm vở kịch Ra đời, Nguyễn Huy Tưởng đã công khai minh bạch bày tỏ nỗi do dự của tớ: Đài Cửu Trùng không thành, nên mừng hay nên tiếc? Chẳng biết Vũ Như Tô phải hay những kẻ giết Vũ Như Tô phải… Ta chẳng biết, cầm bụt chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm.

rất có thể hiểu thái độ, cách reviews của Nguyễn Huy Tưởng về Vũ Như Tô qua thái độ và cách reviews của Đan Thiềm so với nhân vật này. Đan Thiềm cảm phục, trân trọng Vũ Như Tô nồng nhiệt đến quên mình, nhưng Nguyễn Huy Tưởng lại thận trọng tỉnh táo nhận ra Vũ Như Tô mới chỉ là nhân tài, chứ chưa phải là bậc hiền tài. nét đẹp mà Vũ Như Tô rất có thể tạo ra chỉ là tuyệt mĩ mà không tuyệt thiện. Chân lí chi thuộc về Vũ Như Tô một nửa, còn nửa kia thuộc về đời sống dân chúng. Thái độ nhà văn chủ yếu là trân trọng Cái Tài, khâm phục hoài bão nghệ thuật và thẩm mỹ to lớn và thông cảm với thảm kịch của Vũ Như Tô, chứ không phải là thái độ mệnh danh một chiều. Trong vở kịch có những chỗ Nguyễn Huy Tưởng đang không đống ý so với nhân vật của tớ, tuy nhiên Vũ Như Tô được xác minh là thiên tài ngàn năm có một.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Hình ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” số 3

Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng, cũng như những nhân vật chính, còn gọi là nhân vật nhân vật (héros) của thảm kịch, là một con người quá khổ, ta muốn nhận thấy nó thì phải đo nó bằng cái thước của nó, chứ không phải của ta. Vũ Như Tô, cũng như Hamlet, như Coriolanus, như vua Lia (Lear), không phải là người tốt theo nghĩa thường thì. Con người tốt bụng, con người hiền từ hay mềm yếu, mà sự mềm yếu là “phản chỉ định” so với nhân vật thảm kịch. Con người hiền từ yếu ớt, thụ động hứng chịu, quằn quại rên xiết dưới những đòn đánh thiếu hiểu biết nổi của số phận là đối tượng người tiêu dùng của kịch mêlô (mélodrame) ở châu Âu, kịch cải lương ở ta. Vũ Như Tô, nhân vật thảm kịch, chủ động vùng dậy chống lại số phận, không đợi nó đánh mình, thử thách số phận xây Cửu Trùng Ðài.

Nguyên nhân, lực đẩy của tính chủ động cao độ ấy ở nhân vật thảm kịch là niềm say mê (passion), trong trường hợp Vũ Như Tô là say mê sáng tạo. Niềm say mê ấy như là thuốc súng, như là ét-xăng nằm sẵn bên trong nhân vật thảm kịch, chỉ chờ được châm để nổ cháy. Trong kịch của Nguyễn Huy Tưởng, người châm cho say mê nơi Vũ Như Tô bốc lửa là Ðan Thiềm (điểm thắt nút của kịch). Không phải Ðan Thiềm đã thuyết phục hay dụ dỗ họ Vũ xây Cửu Trùng Ðài, khát vọng xây Cửu Trùng Ðài sục sôi sẵn trong Vũ Như Tô, chỉ việc một lời khích lệ từ bên phía ngoài là nó chuyển hóa thành hành vi.

phiên maps Cửu Trùng Ðài đã được vẽ sẵn, mọi tính toán tài chính – kỹ thuật đã được hoàn tất trước lúc nhà kiến trúc sư thiên tài gặp mỹ nữ có tâm hồn. Mối do dự xuất phát từ lương tâm kẻ sĩ (lúc này ta gọi là lương tâm công dân) về việc phục vụ cho hôn quân bạo chúa, đi trái lại quyền lợi của quần chúng nhân dân, mà chính họ Vũ với vợ con và đồng chí đồng nghiệp là thành phần, được tháo gỡ rất đơn giản và giản dị mà không làm giảm sức thuyết phục nghệ thuật và thẩm mỹ của nhân vật và của cả tác phẩm. Từ giây phút ấy, ngọn lửa đam mê cứ thế mà cháy, càng gặp trở ngại càng cháy cao. Vũ Như Tô, mượn tay Lê Tương Dực cuồng bạo, hành vi quay quồng và quyết liệt, lo sợ công trình xây dựng của tớ sẽ không còn hoàn thành.

Trong sử liệu, Cửu Trùng Ðài xây từ thời điểm năm này sang năm khác, thời hạn của thảm kịch được thu rút lại trong vòng 10 tháng. Người thợ cả đôn hậu trong đời thường không ngần ngại giết hết toàn bộ những ai chống lại công trình xây dựng của y. Trong y, không tồn tại chỗ cho những do dự trăn trở về cái giá mà nhân dân phải trả cho tác phẩm nghệ thuật và thẩm mỹ tuyệt mĩ của y. Bao nhiêu công của phải đổ vào, bao nhiêu tính mạng phải hy sinh cũng đều là hợp đích trong con mắt người nghệ sĩ bị ám Hình ảnh bởi đồ án lý tưởng của tớ. Một trong những lớp kịch hay nhất (hồi 4, lớp 1): Vũ Như Tô gặp vợ lần sau cuối, Thị Nhiên kể cho ông xã về cảnh đói kém, mất mùa, giặc nổi lên như châu chấu ở quê nhà, con cái ốm đau quặt quẹo không được phụ thân chăm nom… Họ Vũ, đã què chân vì ngã từ nóc xuống, nghe mà không nghe thấy, toàn bộ tâm trí bị lôi kéo bởi cảnh sắc tráng lệ của Cửu Trùng Ðài. “Khi con người ở trong nghệ thuật và thẩm mỹ, nó vắng mặt ở trong cuộc sống thường ngày, và trái lại” – đó là trạng thái thảm kịch (theo nghĩa triết học) muôn thuở của nhân sinh, được phản ánh cả ở trong vở kịch của Nguyễn Huy Tưởng.

Ðối với Vũ Như Tô, Cửu Trùng Ðài quý hơn tính mạng của chàng, cái đó thật dễ thương và đáng yêu và đáng phục. Nhưng Cửu Trùng Ðài còn quý hơn hạnh phúc và sự sống của hàng trăm, hàng nghìn con người khác, cái đó thì lại đáng sợ rồi. Theo đuổi nét đẹp thuần túy, biến nó không những thành giá trị tự thân, mà còn thành thần tượng độc tôn, người nghệ sĩ thiên tài đã phạm tội trước nhân dân, trước quả đât, trước việc sống. Cái chết của Vũ Như Tô, xét từ một khía cạnh xác định, là hợp lý, là xứng đáng. Ðó là cái chết chuộc tội, tuy nhiên nhân vật kịch không ý thức được điều đó.

Như chúng ta biết, tội lỗi thảm kịch là một khái niệm mấu chốt trong lý thuyết thảm kịch. vô tội lỗi thảm kịch, cũng như không tồn tại xung đột thảm kịch thì không tồn tại tác phẩm thảm kịch. Nhưng tội lỗi thảm kịch khác những kiểu tội lỗi khác ở ở đâu? Hơn hai ngàn năm sau Thi pháp học của Aristote, triết gia và nhà văn hiện sinh chủ nghĩa tiền khu Kierkegaard xác minh: “Nếu con người trọn vẹn vô tội, thảm kịch mất hết lý thú, cũng chính vì sẽ mất đi sức mạnh của xung đột thảm kịch; mặt khác, nếu nhân vật tự nó có lỗi trọn vẹn, thì nó sẽ không còn thể khiến cho ta quan tâm, xét từ quan điểm thảm kịch”. tức là nhân vật thảm kịch phải vừa có tội, lại vừa vô tội (đó là vấn đề khu biệt thảm kịch với kịch nhân vật, ở ta là kịch tuồng, Trong số đó những nhân vật nhân vật chính trực một trăm tỷ trọng đấu tranh với những nhân vật gian ác hèn yếu cũng một trăm tỷ trọng).

những nhân vật thảm kịch nổi bật trên kịch trường (và sau này cả trong tiểu thuyết) trái đất đều là như vậy. Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng, như công ty chúng tôi đã nỗ lực minh chứng, cũng là nhân vật như vậy, cũng vừa có tội, mà tội lớn, lại vừa vô tội, hay là, như một trong những nhà phê bình trước tiên ở ta bình về tác phẩm này nói theo lối nói nổi bật Việt Nam, “có chỗ đáng giận, có điều đáng thương”. Cho nên, không tồn tại gì đáng ngạc nhiên là, sáng tác xong vở kịch, tác giả thấy cần phải viết thêm mấy dòng Ðề tựa nổi tiếng, Trong số đó nhắc lại hai lần: “Chẳng biết Vũ Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải?” thắc mắc này, theo công ty chúng tôi, không thể hiện sự hạn chế về tư tưởng của tác giả, mà nó chứng tỏ rằng tác giả, rất có thể chỉ bằng trực giác sáng tạo, cảm nhận rất rõ cái thực tiễn thảm kịch của trước tác của tớ.

thảm kịch, thể loại lớn của văn học và sân khấu, khi nào thì cũng đặt người hâm mộ và người theo dõi trước những câu rất phức tạp, hóc búa và nhức nhối của cuộc sống thường ngày. Những thắc mắc ấy không mong chờ những giải đáp vội vã, dễ ợt, đơn giản và giản dị. Cho nên thiết nghĩ cũng không nên vì cảm thông và mến yêu Vũ Như Tô mà gọi tội của nhân vật này là “tội thiêng liêng”. như vậy từ “thiêng liêng” bị mất nghĩa, mà tính chất của cái tội ở nhân vật vừa dễ thương và đáng yêu, vừa đáng sợ nó lại không được thâu tóm.

Ðể làm sáng tỏ hơn cái tội thảm kịch của Vũ Như Tô, xin được đi sâu một chút vào lịch sử vẻ vang khái niệm này. thảm kịch, như chúng ta biết, Ra đời ở Hy Lạp cổ đại và liên quan mật thiết với tôn giáo và minh triết của dân tộc này. Người Hy Lạp thờ nhiều thần linh, mà mỗi thần hiện thân cho một sức mạnh phiên bản thể nào đó. Tôn giáo Hy Lạp yên cầu sùng kính toàn bộ những thần, không được nhìn nhận thường một thần nào. Trong thảm kịch rất nổi tiếng Hippolyte của Euripide, chàng trai thủ tiết Hippolyte, vì chỉ tôn sùng thần trinh nữ Artémis và khinh rẻ nữ thần Aphrodite mà đã trở nên Aphrodite trừng phạt, truyền cho Phèdre, mẹ kế của Hippolyte, tình yêu điên rồ so với chàng; tình yêu ấy sau cuối đã giết chết Hippolyte.

Tội thảm kịch của Hippolyte là đã ngưỡng mộ chỉ một Artémis (sự trinh tiết) và rẻ rúng Aphrodite (tình yêu). Nếu dịch ra ngữ điệu khái niệm của xã hội thế tục hóa tiến bộ, thì Hippolyte đã tôn vinh quá mức cần thiết một giá trị của nhân sinh và coi thường quá mức cần thiết một giá trị khác. Ðây là một trong những kiểu lầm lỗi cơ phiên bản của con người và loài người, trong văn học được thâu tóm bằng phạm trù tội lỗi thảm kịch. Mọi say mê của con người, nhất là những say mê chính đáng, cao thượng, giàu tính nhân văn, càng nồng cháy bao nhiêu thì càng tiềm ẩn nhiều nguy hại này bấy nhiêu.

rất có thể tranh luận cái này còn có thuộc về thực tiễn bất hoàn hảo nhất không thay đổi của con người hay là không (hệ quả của “tội lỗi tổ tông”, theo tư duy thần học), nhưng rõ ràng lỗi lầm thảm kịch có tính thông dụng, tính toàn quả đât. Lỗi lầm của Vũ Như Tô trong kịch Nguyễn Huy Tưởng là như vậy. Chàng rất cao thượng trong khát vọng và ý chí sáng tạo của tớ, nhưng chàng đã độc tôn cái Ðẹp nghệ thuật và thẩm mỹ, đặt nó lên trên mọi giá trị cơ phiên bản khác, tuân thủ chỉ một mệnh lệnh của cái Ðẹp và dửng dưng với mệnh lệnh của điều thiện. Ðây là cốt lõi của cái lỗi thảm kịch ở nhân vật nhân vật này.

Trong Nhật ký tư tưởng của Nguyễn Huy Tưởng, ta phát hiện một ý kỳ lạ, ghi ngày 23-2-1932, lúc nhà văn tương lai gần đầy hai mươi tuổi; nó như báo trước cái nút khó tháo của những vấn đề triết lý của kịch Vũ Như Tô: “nét đẹp do ở sự giai cấp bất bình đẳng, cái sướng do ở sự giai cấp bình đẳng”. “Cái sướng” ở đây có lẽ chỉ hạnh phúc, mà hạnh phúc chung, hạnh phúc ấy chỉ rất có thể đạt được khi tiến hành bình đẳng giai cấp – một mệnh lệnh cơ phiên bản của điều thiện. Nhưng được điều thiện thì lại mất cái Ðẹp nối sát với bất công xã hội, bất bình đẳng giai cấp (tư tưởng này khá uyên thâm, xin trở lại với nó sau). Phải chọn một trong hai cái, và Vũ Như Tô, nhân vật Ra đời mười năm sau những dòng viết trên, đã dứt khoát và quyết liệt chọn cái Ðẹp.

Tính đến giờ, công ty chúng tôi mới chỉ nói tới việc lỗi lầm của nhân vật số một (protagoniste), nhưng trong thảm kịch còn tồn tại nhân vật số hai, đối kháng (antagoniste) – quần chúng nhân dân. Quần chúng nhân dân ví dụ, chứ không trừu tượng ấy, trong lịch sử vẻ vang và trong kịch của Nguyễn Huy Tưởng đã chọn không suy nghĩ đắn đo chỉ một chiếc Thiện như họ hiểu nó, và chà đạp, hạ nhục không thương tiếc cái Ðẹp. Nhân vật đối kháng tập thể, cũng hệt như nhân vật nguyên khởi, đã phạm tội lỗi thảm kịch. Trong thảm kịch thực thụ không tồn tại người thắng lợi. Tính cao siêu đặc trưng của nó là tại đoạn ấy.

ai cũng biết giới thuyết của Aristote về hiệu ứng tư tưởng của thảm kịch: nó gây sợ hãi và xót thương. Nhưng cái đó chưa đủ và không phải là cái chính. hành vi thảm kịch phải dẫn đến sự thanh tẩy (catharsis) những cảm xúc ấy. Sự thanh tẩy này đạt được bằng và nhờ sự giác ngộ cái lẽ sâu kín của những khổ đau xấu số đang đi đến với những nhân vật kịch. Ðây cũng là vấn đề quan trọng khu biệt thảm kịch với kịch mêlo hay kịch cải lương. ở những thể loại này, hiệu ứng xót thương đến trào nước mắt, đến ngất xỉu là đặc trưng và tự đủ. Vũ Như Tô, tác phẩm thảm kịch, không làm ta rơi nước mắt, nhưng nó bắt ta suy ngẫm về cái lẽ, cái nghĩa sâu xa của những gì ta đã đọc hoặc đã thấy (trên sân khấu). Ðó là hiệu ứng catharsis chậm.

Có những thảm kịch có dụng ý giúp sức người hâm mộ hay người theo dõi tiến hành catharsis bằng phương pháp làm cho những nhân vật, ở điểm tháo nút, tự giác ngộ ý nghĩa của những gì đã xảy ra (thí dụ, Oedipe làm vua hay Othello). Nhưng số đông những tác phẩm thảm kịch phó thác trách nhiệm ấy cho những người đọc, người xem. Vũ Như Tô thuộc loại thứ hai. Tính đến phút bị chém đầu, nhân vật nhân vật này vẫn đinh ninh: toàn bộ chân lý và lẽ phải thuộc về một mình chàng với Ðan Thiềm, toàn bộ tội tầy trời thuộc về “đảng ác” đã đốt phá Cửu Trùng Ðài. Mặt khác, dân chúng, binh sĩ nổi loạn cũng chỉ biết hả hê là đã loại trừ được nguyên nhân trực tiếp của những tai ương của họ. Nhưng toàn bộ hành vi kịch khiến cho chúng ta, sau những phút giây xúc động mạnh, suy nghĩ dai dẳng theo nhiều hướng, cố tìm tới cái catharsis không thể thiếu được. Xin phác thảo một vài hướng suy nghĩ của cá thể, mong được trao đổi với những đồng nghiệp.

Chúng ta, những con người, luôn luôn luôn luôn lầm lạc trong hành vi lẫn tư duy. Ðề cao cái Chân, điều thiện, cái Ðẹp như những giá trị tối đa của nhân sinh (thực ra, còn nhiều giá trị tuyệt đối khác: cái Thiêng, Tình yêu, Tự do…), chúng ta, bị câu thúc bởi thực tiễn xã hội và bị chi phối bởi kiểu tư duy trừu tượng hóa, chủ biệt chứ không chủ toàn ngày càng thống ngự đời sống tinh thần của loài người, rất dễ dàng xem chúng như những giá trị độc lập, rất có thể tồn tại riêng không liên quan gì đến nhau, cái này không tồn tại cái kia vẫn được. Từ đấy mà ta lại càng dễ hy sinh, dễ thí giá trị này cho giá trị kia. trong lúc ấy trong cuộc sống thường ngày lý tưởng, tức là cuộc sống thường ngày duy nhất xứng đáng với con người, mọi giá trị phải tồn tại viên mãn, không lấn át mà nâng đỡ, bổ sung update hài hòa và hợp lý lẫn nhau. thảm kịch của Nguyễn Huy Tưởng nhắc nhở chúng ta về mối họa lớn của sự tách rời và đối nghịch hóa những giá trị. Nó minh chứng đầy thuyết phục rằng cái Ðẹp tự sát, khi nó nhảy múa trên thân thể quằn quại của điều thiện, nhưng giết cái Ðẹp vì điều thiện cũng là giết luôn luôn cả điều thiện.

Trên đây công ty chúng tôi vừa dẫn một tư tưởng tổng kết rất cô đúc của Nguyễn Huy Tưởng: “nét đẹp do ở sự giai cấp bất bình đẳng…” Như công ty chúng tôi hiểu, ý nhà văn muốn nói, nét đẹp nhân tạo (không phải nét đẹp thiên tạo) Ra đời trong xã hội bất bình đẳng và luôn luôn luôn luôn phục vụ cho những giai cấp thống trị, bị những giai cấp ấy sở hữu. Ðây quả là xích míc cơ phiên bản và thảm kịch của cả văn minh loài người, và chính kịch Vũ Như Tô phản ánh một cách nổi trội xích míc ấy. xích míc này nhiều khi trở nên gay cấn đến nỗi một thiên tài sáng tạo đúng là “ngàn năm chưa dễ có một” như L. Tolstoi (mà Nguyễn Huy Tưởng rất ngưỡng mộ), đã cương quyết chối từ cả cái Ðẹp lẫn toàn bộ văn hóa truyền thống, văn minh, lôi kéo loài người trở lại và tự ông cũng cố trở lại với cuộc sống thường ngày tự nhiên, mộc mạc của những con người làm ruộng chân lấm tay bùn – cái cuộc sống thường ngày mà trong kịch của Nguyễn Huy Tưởng, Thị Nhiên (chỉ một chiếc tên của nữ nhân vật này đã là một sáng tạo đáng phục!) lôi kéo Vũ Như Tô trở về.

Nhưng quả đât đang không nghe theo một trong những người thầy đáng kính dễ thương và đáng yêu nhất của nó. (rất có thể một phần bởi lẽ ông thầy này, cũng như nhiều ông thầy lớn khác, muốn trở thành vị thầy duy nhất). Nó đang không chối từ những giá trị siêu đẳng, chỉ vì chúng đương bị một thiểu số không xứng đáng chiếm giữ, để thỏa mãn thị hiếu với chỉ những giá trị sơ đẳng, vừa tầm với tuyệt đại số đông. cũng chính vì hàng trăm hàng nghìn đình làng mà Thị Nhiên nhắc đến không thay thế được một Cửu Trùng Ðài. Nhưng quan hệ giữa cái siêu đẳng và cái sơ đẳng trong văn hóa truyền thống là tương hỗ, nuôi dưỡng lẫn nhau. không tồn tại cái siêu đẳng, cái sơ đẳng càng tiếp thị càng trở nên thô kệch. Nhưng cắt đứt quan hệ với cái sơ đẳng (“cái tự nhiên” hay là “đất” của văn hóa truyền thống), cái siêu đẳng tự làm cho mình mất đi nhựa sống. Bệnh Ðan Thiềm trong kịch của Nguyễn Huy Tưởng (không phải trong lời Ðề tựa!) là bệnh khát khao và quý giá chỉ một chiếc đẹp siêu đẳng. Cái đó rất có thể châm chước cho nàng, nhưng nếu họ Vũ chỉ say đắm Ðan Thiềm và quên hẳn Thị Nhiên, thiên tài của chàng sẽ hết sạch.

Một trong những hiệu ứng tư tưởng quan trọng nữa của thảm kịch là ưu tư thảm kịch. thảm kịch được viết không phải để truyền cho ta thú vui sống hay an ủi ta trong những khổ đau, có những thể loại khác phục vụ những yêu cầu ấy. thảm kịch khiến cho chúng ta phiền lòng cho vận mệnh của những giá trị lớn của xã hội và con người. Vũ Như Tô là một tác phẩm như vậy. Trong lý thuyết giá trị, người ta phân biệt cấp và lực của giá trị, giữa chúng rất có thể có độ vênh lớn. Những giá trị ở cấp thấp thường có lực lớn (thí dụ sự tồn tại vật chất hoặc những lợi ích vật chất). Càng lên rất cao, thì những giá trị càng dễ (không phải tất yếu!) yếu đi và rất nhiều khi trở nên khả nghi. Ðó cũng là nghịch lý thảm kịch của xã hội loài người. Kịch Nguyễn Huy Tưởng nhắc nhở chúng ta về cái nghịch lý vĩnh cửu ấy. Những giá trị cấp cao muốn tự bảo tồn và tỏa sáng không được quay sống lưng lại những giá trị cấp thấp, như họ Vũ trong kịch của Nguyễn Huy Tưởng làm, nhưng phải ghi nhận liên thông và links với chúng, mà vẫn không đánh mất phiên bản thân. Ðó là trách nhiệm rất khó, nhưng tương lai của nền văn minh con người tùy từng việc xử lý trách nhiệm này.

Và, sau cuối, xin trở lại với mối do dự được nêu trong lời Ðề tựa kịch. “Chẳng biết Vũ Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải? Ðài Cửu Trùng không thành, nên mừng hay nên tiếc? Tháp người Hời nguyên là giống Angkor!” Văn minh Chiêm Thành và văn minh Angkor thuộc số những nền văn minh đã tử vong. Số phận, tuyệt kỹ vĩnh cửu hay tử vong của những nền văn minh và những dân tộc là một chủ đề tư tưởng sâu kín của vở kịch của Nguyễn Huy Tưởng và những suy ngẫm kiên trì, ngọt ngào từ thuở thiếu thời Tính đến tận lúc qua đời, của ông về số phận của dân tộc chúng ta, so với số phận những dân tộc khác, cho thấy ông thực sự là một Con Người Việt Nam viết hoa. Ông vừa mừng vui cho sự vĩnh cửu của dân tộc, vừa phiền lòng cho tiền đồ của nó, tiền đồ ấy, ông nghĩ rất đúng, tùy từng việc dân tộc có hiện thực hóa được những tiềm năng sáng tạo của tớ hay là không.

Ðây là động cơ mãnh liệt khiến cho Nguyễn Huy Tưởng viết đi viết lại kịch Vũ Như Tô. Nguyễn Huy Tưởng ghi lại, nhưng không share tư tưởng của Trương Tửu về cái Ðạo Việt Nam, mà cốt lõi là “sống trước đã, sáng tạo sau”. Bởi lẽ sáng tạo thuộc về trách nhiệm, thiên chức của từng con người và từng dân tộc. rất có thể tiến hành nó dưới nhiều hình thức, không nhất thiết phải bằng những công trình xây dựng nghệ thuật và thẩm mỹ kỳ vĩ khiến cho trái đất kinh ngạc. Nhưng trách nhiệm ấy phải được tiến hành, và không thể coi nó là trách nhiệm cấp thứ hai, như Trương Tửu làm. Nhìn vào lịch sử vẻ vang, ta thấy có những dân tộc hay những nền văn minh đã suy vong do, trong một giai đoạn nào đó, đã huy động đến vắt kiệt những tiềm lực sáng tạo của tớ (văn minh Angkor là thí dụ nổi bật). Nhưng, ngay trước mắt chúng ta, một trong những dân tộc (ở Bắc và Trung Phi) có lịch sử vẻ vang khá lâu lăm; họ đương tiến hành – khó nói một cách khác – sự tiêu diệt lẫn nhau và sự tự diệt. Phải chăng cũng chính vì họ đang không tìm ra con đường giải phóng những tiềm lực sáng tạo của tớ, và những tiềm lực ấy chuyển hóa thành những lực hủy hoại? thảm kịch Vũ Như Tô thôi thúc chúng ta suy nghĩ và suy nghĩ…

Một tác phẩm như Vũ Như Tô chỉ rất có thể Ra đời trong thời đại thời đại này, nó là một trong những trái chín sớm của tiến trình văn hóa truyền thống Việt Nam hội nhập văn hóa truyền thống trái đất. công ty chúng tôi đã nỗ lực khảo cứu kịch và tiểu thuyết Âu – Mỹ thế kỷ XIX – XX, nhưng chưa tìm ra được tác phẩm nào viết trước những năm 1940 có chủ đề tương tự và đạt sức khái quát lịch sử vẻ vang như trước tác của Nguyễn Huy Tưởng. Nhưng cũng trong những năm mà nhà văn của chúng ta viết đi viết lại vở kịch tâm đắc của tớ, bên kia bờ Thái tỉnh bình dương, nhà văn Ðức lưu vong Thomas Mann sáng tác tiểu thuyết – thảm kịch Bác sĩ Faustus.

Nhân vật chính trong tiểu thuyết ấy, nhạc sĩ thiên tài Adrian Leverkuhn, sống trong thời đại, khi mà nghệ thuật và thẩm mỹ đã ngạo nghễ tự khép mình trong tháp ngà của tớ, không muốn biết đến những nghành nghề khác của cuộc sống thường ngày, khi mà sự thay đổi trong nghệ thuật và thẩm mỹ trở thành mục đích tự thân và mệnh lệnh câu thúc mọi văn nghệ sĩ, Adrian Leverkuhn càng quên mình sáng tạo càng cảm thấy hết sạch bên trong cảm hứng sáng tạo. Và, bị quỷ dữ cám dỗ, chàng đã bán linh hồn mình cho quỷ dữ để đổi lấy hai mươi bốn năm sáng tạo đầy hứng khởi, nhưng dưới ngòi bút của chàng chỉ hiện ra những phiên bản nhạc của sự nhạo báng toàn bộ, sự hủy hoại cuồng say và sự vô vọng lạnh buốt…

Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng và Bác sĩ Faustus của Thomas Mann như gọi nhau từ hai bờ đại dương. Một tác phẩm vừa đòi cho cái Ðẹp nghệ thuật và thẩm mỹ quyền trở thành giá trị tự thân, vừa Note về mối họa nằm sẵn trong tham vọng của nó muốn đứng lên trên mọi giá trị khác của sống sót. Tác phẩm khác trưng bày những hệ quả bi thảm, khi tham vọng đấy được thỏa mãn thị hiếu.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Hình ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” số 4

Trong làng kịch tiến bộ Việt Nam, lân cận Lưu Quang Vũ tài năng, vực dậy cả một nền văn học kịch đang trên đà tuột dốc, ta cũng không thể không nhắc đến Nguyễn Huy Tưởng một trong những nhà viết kịch và tiểu thuyết xuất sắc. những tác phẩm của ông thường đi khai thác những đề tài lịch sử vẻ vang và tác phẩm Vũ Như Tô là tác phẩm nổi trội nhất. Xung đột kịch được đưa lên tới mức cao trào và được xử lý ở hồi thứ 5 “Vĩnh biệt cửu trùng đài” qua đó thể hiện quan niệm thâm thúy của ông về cuộc đời và nghệ thuật và thẩm mỹ.

Vũ Như Tô là một kiến trúc sư tài xuất sắc, bị Lê Tương Dực – tên vua tàn bạo bắt xây Cửu Trùng Đài thành nơi để hắn ăn chơi, hưởng lạc. Là một người nghệ sĩ chân chính, Vũ Như Tô đang không nhận lời dù có bị hắn đe dọa sẽ giết chết. Nhưng Đam Thiềm một cung nữ đã thuyết phục được ông xây Cửu Trùng Đài. Cửu Trùng Đài xây cao bao nhiêu, lòng dân oán hận Vũ Như Tô bấy nhiêu. Lợi dụng tình thế đó Trịnh Duy Sản đã dấy binh nổi loạn. Đoạn trích “Vĩnh biệt cửu trùng đài” là sự việc tiếp nối những sự kiện đang bị đưa lên tới mức cao trào đó.

Mở đầu tác phẩm là tiếng hoảng hốt của Đam Thiền, khuyên Vũ Như Tô hãy mau trốn đi. Cơn biến loạn xảy ra ở kinh thành nên tình trạng của Vũ Như Tô hết sức nguy hiểm, nhưng Vũ Như Tô lại nhất định không trốn, không nghe lời khuyên của Đam Thiền bởi “Những người quân tử không khi nào sợ chết. Mà vạn nhất có chết, thì cùng phải làm cho mọi người biết rằng công việc mình làm đường đường chính chính. Tôi sống với Cửu Trùng Đài, chết cũng với Cửu Trùng Đài. Tôi không thể xa Cửu Trùng Đài một bước. Hồn tôi dể cả ở đây, thì tôi chạy đi đâu?”. Ông hi sinh hết mình cho nghệ thuật và thẩm mỹ, ông cố thủ ở lại cũng mong Cửu Trùng Đài sẽ được hoàn thiện, để tranh tinh xảo với hóa công. Nhưng ông nào biết, chính quyết định đó đã khiến cho ông nhận lấy cái chết oan nghiệt, đến cả lúc chết ông vẫn không thể lí giải vì sao mình phải chết.

Khi nhận lời xây dựng Cửu Trùng Đài phiên bản thân Vũ Như Tô đã mắc phải sai lầm trong suy nghĩ và hành vi. Vũ Như Tô mượn uy quyền và tiền bạc của Lê Tương Dực để tiến hành giấc mộng Cửu Trùng Đài. Nhưng tiền bạc đó đó là công sức của con người, của cải của nhân dân, ông chỉ nhìn thấy cái bề nổi khi xây dựng xong Cửu Trùng Đài, mà không nhận ra phần sâu của sự việc. Cửu Trùng Đài càng đến ngày hoàn thiện thì xích míc giữa ông với nhân dân càng lớn dần, họ ghét bỏ Vũ Như Tô bởi ông đã hạ lệnh giết chết những người bỏ trốn để duy trì kỉ luật trên công trường. Đó là hành vi hết sức tàn nhẫn, đặt công trình xây dựng lên trên tính mạng của thợ thuyền.

Vũ Như Tô đang trở thành một kẻ đáng sợ, người dân không thể thấy hình Hình ảnh của Vũ Như Tô thân thiết với nhân dân đâu nữa. Vì xây Cửu Trùng Đài mà cuộc sống thường ngày của nhân dân ngày càng cực khổ. Vũ Như Tô là một thiên tài nhưng không phải là một hiền tài. Ông không thấu hiểu nỗi thống khổ của nhân dân. Vũ Như Tô bị đặt vào xích míc không thể hóa giải, điều hòa: một bên là khát vọng nghệ thuật và thẩm mỹ, một bên là đời sống của nhân dân. Bởi vậy, sau cuối ông đã nhận được lấy cái kết vô cùng bi thảm. Vũ Như Tô bị hiểu lầm và bị kết tội: Nhân dân coi bạo chúa và Vũ Như Tô là một là hai người gây ra tội ác: “Bạo chúa đã chết, còn thằng Vũ Như Tô đem phanh thây thành trăm mảnh”.

Ông không chỉ là bị nhân dân kết tội mà giấc mộng cuộc đời ông, ông đã dồn biết bao tài năng và tâm sức xây dựng Cửu Trùng Đài giờ cũng rơi vào vô vọng, Cửu Trùng Đài bị phá hủy. Trước cảnh tượng Cửu Trùng Đài rực cháy, Vũ Như Tô rú lên kinh hòang, toàn bộ giấc mộng đẹp tan tành, sụp đổ, đó là tiếng rú kinh hoàng, sợ hãi. “Thông thế là hết, dẫn ta đến pháp trường” – Vũ Như Tô người sáng tạo nét đẹp cũng trở thành giết. Cái chết của Vũ Như Tô là một kết cục tất yếu vì Cửu Trùng Đài là một công trình xây dựng đẹp, tuyệt mĩ nhưng nó lại là biểu lộ của cái xấu, điều ác, nên tất yếu nó sẽ bị tàn phá. Qua đó Nguyễn Huy Tưởng cũng nêu lên mối quan hệ giữa nghệ thuật và thẩm mỹ và cuộc đời: nghệ thuật và thẩm mỹ phải xuất phát từ cuộc sống thường ngày và phục vụ con người mới rất có thể tồn tại nếu không nó tất yếu sẽ bị diệt vọng.

Ngoài nhân vật Vũ Như Tô, ta cũng không thể không nhắc đến Đam Thiền. Bà là một cung nữ xinh đẹp, tài năng nhưng bị bỏ rơi. Đam Thiền là tình nhân nét đẹp, cái thái độ “biệt nhỡn liên tài”, chính bà là người đã khuyên Vũ Như Tô nên ở lại để xây dựng Cửu Trùng Đài điểm tô cho nước nhà, cũng chính bà đã khuyên Như Tô trốn đi khi xảy ra biến loạn. Và bà tình nguyện ở lại để bảo vệ Cửu Trùng Đài bởi “tôi chết đi không thiệt hại cho đời”. Cũng như Vũ Như Tô, Đam Thiềm cũng rơi vào thảm kịch vỡ mộng: hi sinh toàn bộ danh dự trù mạng để bảo vệ Cửu Trùng Đài nhưng cuối cung vẫn phải chết. Đau đớn hơn trước lúc chết còn phải tận mắt chứng kiến cảnh Cửu Trùng Đài bị đốt phá tan tành. Người bà hết lòng bảo vệ là Vũ Như Tô cũng trở thành đưa ra pháp trường.

Hồi năm của vở kịch Vũ Như Tô đã được Nguyễn Huy Tưởng sử dụng ngữ điệu kịch điêu luyện, mang tính chất tổng hợp cao. Nhịp điệu lời thoại nhanh, gấp gáp, sử dụng những câu văn ngắn cho thấy tình thế cấp bách. Tính cách, tâm trạng nhân vật được bộ lộc rõ ràng. Với những lớp kịch linh hoạt, tự nhiên tác giả đã tái hiện thành công hồi kịch thứ năm. Qua hồi kịch này ông gửi gắm sự cảm thông với thảm kịch của Vũ Như Tô, đồng thời đề ra vấn đề mối quan hệ hài hòa và hợp lý giữa nghệ thuật và thẩm mỹ và con người. không chỉ là vậy xã hội cần trân trọng, nâng niu những tài năng nghệ thuật và thẩm mỹ, để họ rất có thể phát huy tài năng của phiên bản thân, xây dựng sự giàu đẹp cho nước nhà.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Hình ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” số 5

Vào năm 1516 dưới triều vua lợn Lê Tương Dực vốn nổi tiếng là ăn chơi, sa đọa đã sai Vũ Như Tô xây điện 100 nóc và xây công trình xây dựng quy mô lớn là Cửu trùng đài. đó là một sự kiện có thật được nhà viết kịch tài ba Nguyễn Huy Tưởng khai thác để dựng lên vở kịch “Vũ Như Tô” phản ánh hai xích míc cơ phiên bản về xã hội và con người. Đoạn trích “Vĩnh biệt cửu trùng đài” thuộc hồi cuối tác phẩm thể hiện cao trào kịch tính được đưa lên tới mức đỉnh điểm, cùng với đó là thảm kịch của nhân vật Vũ Như Tô và nữ phụ Đan Thiềm_những người nghệ sĩ say mê nét đẹp mà quên mất mối quan hệ giữa nghệ thuật và thẩm mỹ và cuộc sống thường ngày, giữa lí tưởng nghệ thuật và thẩm mỹ thuần túy với lợi ích của nhân dân.

Vũ Như Tô là một nhà kiến trúc sư tài xuất sắc bị Lê Tương Dực ép xây dựng Cửu trùng đài để làm nơi hưởng lạc vui chơi với cung nữ. Ông vốn là người nghệ sĩ chân chính lại gắn bó thân thiết với nhân dân nên đã từ chối, quyết không nhận lời và ngang nhiên mắng chửi tên hôn quân bạo ngược. Về sau thời điểm được Đan Thiềm_người cung nữ say mê nét đẹp và biết quý trọng người tài thuyết phục là lợi dụng tiền bạc và quyền lực tối cao của vua để xây dựng một tòa thành tháp cho nước nhà “Bền như sao trăng”, rất có thể “tranh tinh xảo với hóa công” và làm cho “dân ta nghìn thu còn hãnh diện”.

Tính từ lúc đó ông thay đổi thái độ đồng ý mệnh lệnh, dồn toàn bộ tài năng và trí tuệ sáng suốt để hoàn thành hoài bão, lí tưởng muốn điểm tô cho nước nhà. Chính việc làm ấy của Vũ Như Tô đã vô tình đẩy dân đen vào cảnh lầm than cực khổ khi sưu thuế ngày càng tăng cao, triều đình bắt thêm thợ xuất sắc, thẳng tay hạ chém những kẻ bỏ trốn, biết bao nhiêu người chết vì tai nạn. Nhân dân phẫn nộ nhà vua, oán giân Vũ Như Tô. Để rồi Trịnh Duy Sản kẻ cầm đầu phe phái đối lập với triều đình lôi kéo dân chúng đứng lên làm phản giết vua và bắt giết Vũ Như Tô cùng Đan Thiềm.

Mở đầu đoạn trích “Vĩnh biệt cửu trùng đài” là hình Hình ảnh cung nữ Đan Thiềm hớt hơ hớt hải chạy, mặt cắt không thể hột máu vào phục vụ yêu cầu tin tình thế nguy kịch, thúc giục, cầu xin, van nài Vũ Như Tô chạy trốn với những lời lẽ tha thiết, chân thành: “Ông nghe tôi! Ông trốn đi! Ông nghe tôi! Ông phải trốn đi mới được”, nàng chắp tay van lạy Vũ Như Tô hãy bỏ trốn gìn giữ tính mạng chờ thời cơ khác vì đại sự đã hỏng. Từng ví dụ hành vi và lời nói của Đan Thiềm chứng tỏ cô là một người rất quý trọng người tài, hiểu biết lo trước lo sau cho tài năng nước nhà.

Cô xác minh: “Ông trốn đi. Tài kia không nên để uổng. Ông mà có mệnh hệ nào thì VN không thể ai điểm tô nữa”, con người ấy sẵn sàng quỳ dưới chân giặc cầu xin tha mạng cho ông Vũ, sẵn sàng xin chết thay ông nhưng Vũ Như Tô nhất quyết sống chết cùng đài cửu trùng mà không chịu rời đi để rồi gây nên tấn thảm kịch cho cuộc đời ông. Vũ Như Tô coi Cửu trùng đài quý hơn sinh mạng của phiên bản thân, nó là cả phần xác lẫn phần hồn của ông và Đan Thiềm. Chính vì vậy mà ông mù quáng, u mê không thoát ra khỏi ảo vọng của tớ được.

Quân làm phản càng ngày kéo đến càng gần nhưng con người ấy vẫn ngoan cố vẫn thiếu hiểu biết vì lí do gì họ lại muốn bắt mình, vẫn cố đấu lí với đời, với số phận: “Có lí gì để họ giết tôi?”, đứng trước quân khởi loạn vẫn tự trấn an mình và mọi người “Đời ta chưa tận, mệnh ta chưa cùng. Ta sẽ xây một tòa đài để tạ lòng tri kỉ”. Bị bọn chúng bắt ông vẫn nuôi hy vọng rất có thể phân trần với chủ tướng về tấm lòng nguyện vọng của phiên bản thân mong sao để người đời hiểu cho nguyện ước ông đang tiến hành là vì vẻ đẹp ngàn năm của nước nhà.

Ông vẫn say sưa giấc mộng của riêng mình về Đài Cửu Trùng: “Vài năm nữa, Đài Cửu Trùng hoàn thành, cao siêu, huy hoàng, giữa cõi trần lao lực, có một cảnh Bồng Lai…” Vũ Như Tô không thể tỉnh táo để nhận diện tình thế nguy kịch của hiện tại. Ông vẫn nghĩ mình bị hiểu nhầm, vẫn không tin rằng mình bị nhân dân oán hận, bị mọi người ghét bỏ, ông không tin dân chúng muốn phá Cửu Trùng Đài bởi đó là công trình xây dựng, là tòa thành tháp điểm tô cho nước nhà. Đứng ở khía cạnh người hùng thì đúng ông là con người dám làm dám chịu, có khí phách hiên ngang nhưng dựa trên yếu tố hoàn cảnh thực tại thì đó là bảo thủ, cố chấp.

Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài là biểu lộ cho tài năng của người nghệ sĩ, hiện thân cho sự khao khát và say mê sáng tạo nét đẹp đó là đúng đắn, là đáng trân trọng nhưng thực tiễn của nước nhà dân cùng khốn khổ nét đẹp ấy lại trở nên thật phù phiếm, xa xỉ bởi đã thấm đẫm máu, nước mắt và được xây trên thây xác của nhân dân. Dù là ước muốn cao đẹp của Vũ Như Tô nhưng ông đã vô tình gây ra tội ác, trở thành quân thù của dân chúng và thợ thuyền mà không hề hay biết. Đến khi kinh thành bị phát hỏa, quân lính cho hay đó là lệnh của An Hòa Hầu, tận mắt tận mắt chứng kiến cảnh Đài Cửu Trùng bốc cháy như giàn thiêu ông chỉ biết gào lên trong vô vọng: “Đốt thực rồi! Đốt thực rồi! Ôi đảng ác! Ôi muôn phần căm giận! Trời ơi! Phú cho ta cái tài làm gì? Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài!”.

Vũ Như Tô bị rơi từ đỉnh cao mộng tưởng xuống hố sâu của vô vọng. Nỗi đau và sự mất mát đã hòa vào nhau làm một dội lên tiếng kêu của đau thương, tang tóc. Những câu cảm thán thốt ra từ đỉnh điểm cảm xúc đau đớn vô cùng. Thật không mong muốn với những thắc mắc lớn của Vũ Như Tô đến khi chết ông vẫn thiếu hiểu biết tại vì sao lại ra nông nỗi: “Ta tội gì? Ta vô tội! Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu trùng đài! Tấn thảm kịch ấy là cái giá mà ông phải trả vì không nhận thức rõ vấn đề muôn thuở và thực tại.

Vũ Như Tô đã thiếu hiểu biết được mối quan hệ giữa nghệ thuật và thẩm mỹ và cuộc sống thường ngày. nghệ thuật và thẩm mỹ được sáng tạo và xây dựng lên sau cuối cũng phải vì phục vụ cho đời sống nhân dân. Đó mới là nghệ thuật và thẩm mỹ vị nghệ thuật và thẩm mỹ. Còn nghệ thuật và thẩm mỹ không thể chỉ để thỏa mãn thị hiếu tài năng, lí tưởng của người nghệ sĩ mà quên mất rằng nét đẹp phải gắn với điều thiện, đẹp thiện không thể tách rời được nhau. Đứng trên lập trường người nghệ sĩ Cửu trùng đài là nét đẹp tuyệt mĩ, đứng trên lập trường của nhân dân nó là một bông hoa ác thấm đẫm máu. Cái giá mà Vũ Như Tô phải trả là ông chỉ nghĩ mình là nghệ sĩ chân chính mà quên mất rằng mình cũng là một công dân của nước nhà.

Như vậy qua đoạn trích “Vĩnh biệt cửu trùng đài” nhà văn đã tái hiện lại thảm kịch của Vũ Như Tô và Đan Thiềm gặp phải phản ánh thâm thúy hai xích míc của thời đại. xích míc thứ nhất là xích míc của tập đoàn lớn phong kiến Lê Tương Dực ăn chơi, hưởng lạc với yếu tố hoàn cảnh bị nghèo nàn hóa của nhân dân. xích míc thứ hai trong phiên bản thân con người Vũ Như Tô và Đan Thiềm. Đó là xích míc giữa người công dân và người nghệ sĩ và phản ánh mối quan hệ giữa nghệ thuật và thẩm mỹ và cuộc sống thường ngày. Hai xích míc này tác động lẫn nhau. Đan Thiềm thuyết phục Vũ Như Tô xây dựng Cửu trùng đài càng làm cho xích míc xã hội tăng cao, người nghệ sĩ càng hăng hái sáng tạo nét đẹp nghệ thuật và thẩm mỹ bao nhiêu thì càng xích míc với lợi ích công dân bấy nhiêu.

Thật không mong muốn cho một người tài năng lại bị đặt nhầm chỗ, không đúng thời thế để rồi con người ấy, tài năng ấy bị tàn phá bởi thực tại cuộc sống thường ngày. Qua đó ta cũng nhận thức được bài học nét đẹp nghệ thuật và thẩm mỹ chỉ thực sự mong muốn và có ý nghĩa khi đời sống vật chất được phục vụ yêu cầu đủ, lợi ích của nhân dân phải được đặt lên hàng đầu. Quan điểm đó đến thời đại này vẫn không hề lỗi thời mà nó luôn luôn đúng trong mọi yếu tố hoàn cảnh. Đảng và nhà VN luôn luôn vận dụng nó vào để duy trì và phát triển nước nhà.

Đoạn trích đã xử lý được xích míc xã hội nhưng xích míc cá thể với hai tư cách nghệ sĩ và công dân chưa được xử lý điểm biểu lộ trong lời nói sau cuối của Vũ Như Tô “Ta tội gì. Không ta chỉ có một hoài bão là tô điểm nước nhà, đem hết tài năng ra xây cho nòi giống một tòa đài hoa lệ rất có thể thử thách với công trình xây dựng trước sau, tranh tinh xảo với hóa công” và lời đề tựa vở kịch của tác giả: “Chẳng biết Vũ Như Tô phải hay những kẻ giết Vũ Như Tô phải, ta chẳng biết. Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”.

Nguyễn Huy Tưởng trân trọng tài năng, say mê nét đẹp, cảm thông cho Vũ Như Tô nhưng ông cũng không đống ý với nhân vật và những người nghệ sĩ chỉ biết quan tâm đến nét đẹp mà không vì quyền lợi của nhân dân.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Hình ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” số 6

Nguyễn Huy Tưởng được biết đến là một nhà trí thức say mê văn chương và giàu lòng yêu nước. Và qua văn chương thì lòng nhiệt thành về quê nhà nước nhà của ông được thể hiện. Trong rất nhiều những sáng tác của ông thì “Vũ Như Tô” là một trong những tác phẩm làm lên tên tuổi của ông. Và đoạn trích rực rỡ trong sách giáo khoa là một đoạn trích nằm ở hồi V như hội tụ được tài năng cũng như điểm rực rỡ của toàn bộ tác phẩm “Vũ Như Tô”

“Vũ Như Tô” là một vở kịch lịch sử vẻ vang bao hàm năm hồi, viết về một sự kiện xảy ra ở Thăng Long năm 1516 – 1517 dưới triều Lê Tương Dực. nói theo cách khác Lê Tương Dực là một hôn quân bạo chúa chỉ biết lo cho phiên bản thâm mặc cho dân chúng lầm than, y khao khát xây dựng Cửu Trùng Đài như một toà kiến trúc nguy nga tráng lệ để làm nơi vui chơi với những cung tần mĩ nữ. Và Lê Tương Dực đã vui mừng vì phát hiện ra Vũ Như Tô, một nhà kiến trúc thiên tài, người duy nhất có kỹ năng xây dựng được Cửu Trùng Đài cho mưu đồ của y.

Qua tấm thảm kịch của nhân vật chính “Vũ Như Tô”, tác giả đã thật tài tình đề ra những vấn đề thâm thúy, có ý nghĩa muôn thuở về mối quan hệ giữa nghệ thuật và thẩm mỹ với cuộc sống thường ngày, việc xích míc giữa cả lí tưởng nghệ thuật và thẩm mỹ cao siêu, thuần tuý của muôn đời với lợi ích thiết thực và trực liếp của nhân dân. Đoạn trích “Vĩnh biệt cửu trùng đài” nằm ở hồi V của vở kịch, thể hiện rõ rực rỡ về nghệ thuật và thẩm mỹ kịch của Nguyễn Huy Tưởng. rất có thể dễ nhận thấy ngữ điệu kịch điêu luyện, có tính tổng hợp cao; dùng ngữ điệu, hành vi của nhân vật để khắc hoạ tính cách, miêu tả tâm trạng, dẫn dắt và đẩy xung đột kịch đến cao trào.

Và những xích míc cơ phiên bản của kịch Vũ Như Tô được thể hiện ví dụ nhưng hết sức điêu luyện trong hồi V chính và xích míc giữa lợi ích của bạo chúa với quyền sông của nhân dân. Đây sẽ là một xích míc giữa đời sông xa hoa trụy lạc của bọn tham quan bạo chúa với đời sông cực khổ của người dân. Dường như xích míc này sau cuối đã được xử lý bằng việc nhân dân nổi dậy, hôn quân Lê Tương Dực đã trở nên giết.

xích míc thứ hai là một xích míc ngầm giữa quan niệm nghệ thuật và thẩm mỹ cao siêu, thuần tuý của muôn đời với lợi ích trực tiếp, thiết thực của nhân dân. Cũng chính vì do người nghệ sĩ thiên tài không tồn tại ĐK để sáng tạo, ông ấp ủ hoài bão, hy vọng có một công trình xây dựng thật là hoành tráng, nó phải hơn hẳn mọi kì quan khác, nên đã lợi dụng ý đồ của bọn hôn quân bạo chúa để tiến hành hoài bão của tớ. Chính việc xây dựng Cửu Trùng Đài thành một công trình xây dựng kiến trúc nguy nga tráng lệ, một toà đài hoa lệ, thách cả những công trình xây dựng sau trước, “tranh tinh xảo với hoá công”, một công trình xây dựng “cao siêu, huy hoàng”, còn mãi với thời hạn.

Nhưng dường như những ý định tốt đẹp, muôn công hiến tài năng của tớ để đem lại vinh quang cho nước nhà của Vũ Như Tô lại xích míc với lợi ích trực liếp và thiết thực của nhân dân. Và nhân vật Vũ Như Tô đã trở nên nhân dân, những người lao động coi như quân thù của họ. Vì một lẽ đơn giản và giản dị và dễ hiểu công trình xây dựng do ông quyết chí xây dựng đã làm cho họ phải hao tốn tiền của, công sức của con người, mồ hôi, máu và nước mắt. không dừng lại ở đó, công trình xây dựng nó lại chỉ phục vụ cho sự ăn chơi trác táng của những kẻ hôn quân bạo chúa. Như vậy,nếu như muốn tiến hành hoài bão nghệ thuật và thẩm mỹ thì bị đi ngược với lợi ích của nhân dân, còn muốn ủng hộ lợi ích thiết thực của nhân dân thì mơ ước nghệ thuật và thẩm mỹ không thể tiến hành được. rất có thể xác minh thảm kịch không lối thoát của thiên tài Vũ Như Tô là ở đó.

Trong tác phẩm đã xây dựng lên nhân vật Vũ Như Tô là một kiến trúc sư thiên tài, ông “Chỉ vẩy bút là chim, hoa đã hiện lên trên mảnh lụa thần tình biến hoá như cảnh hoá công, rất có thể sai khiến cho gạch đá như viên tướng cầm quân, rất có thể xây dựng thành tháp cao siêu, nóc vờn mây mà không hề tính sai một viên gạch nhỏ”. Ông sẽ là một nghệ sĩ có nhân cách lớn, có hoài bão lớn có lí tưởng nghệ thuật và thẩm mỹ cao siêu, là hiện thân cho niềm khát khao say mê nét đẹp đến mãnh liệt Vũ Như Tô có ước mơ sáng tạo nét đẹp, tuy vậy cũng chính vì nó mà ông bị đẩy đến vòng thảm kịch và trở thành quân thù của dân chúng. Dường như ông luôn luôn sống trong tâm trạng thảm kịch đầy căng thẳng khi phải tìm kiếm câu vấn đáp “Xây Cửu Trùng Đài là đúng hay sai đây? Là có công hay có tội?”.

Nhưng rất có thể thấy rằng dường như Vũ Như Tô đang không vấn đáp được thắc mắc đó. Vũ Như Tô được hiện lên đúng là một nhân vật thảm kịch bởi đã mang trong mình không chỉ là những say mê, khát vọng lớn lao mà còn cả những lầm lạc trong suy nghĩ và hành vi. Trước đó ông không hề nghĩ tới việc mình xây Cửu Trùng Đài là có tội với nhân dân. Chỉ khi mà Cửu trùng Đài bị đập phá, ông và Đan Thiềm bị bắt, lúc này đâu ông mới bừng tỉnh, đau xót, kinh hoàng kêu lên: “Ổi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài!”

Và nhân vật Đan Thiềm là người đam mê cái tài, tôn trọng cái tài sáng tạo ra nét đẹp. Và vì có một tấm lòng yêu mến cái tài nên lúc Vũ Như Tô mới bị Lê Tương Dực bắt xây dựng Cửu Trùng Đài. Lúc này ông mới nhờ Đan Thiềm mách đường chạy trốn, nàng đã khuyên ông ở lại, thuyết phục ông, và cũng nhân thời cơ này, mượn uy quyền và tiền bạc của Lê Tương Dực để tiến hành hoài bão. Vì đam mê tài năng mà nàng luôn luôn khích lệ Vũ Như Tô để xây Cửu Trùng Đài, sẵn sàng quên mình để bảo vệ cái tài ấy. Nhưng sau cuối, cả hai đều rơi vào thảm kịch: Sự vỡ mộng thê thảm.

Và thêm một xích míc nữa là xích míc giữa quan niệm nghệ thuật và thẩm mỹ cao siêu, thuần tuý của muôn đời và lợi ích thiết thực của nhân dân chưa được tác giả xử lý dứt khoát. Điều đó dường như đã được thể hiện ở hồi cuối cùng của vở kịch. Tính đến phút chót, phút sau cuối thì Vũ Như Tô vẫn không nhận ra nghịch lí khi ông thực hiên mơ ước cao siêu của nghệ thuật và thẩm mỹ là đem lại một công trình xây dựng nguy nga, tráng lệ cho nước nhà thì vô tình ông đã đẩy nhân dân vào cảnh khổ khôn cùng. Ông đang không hề chịu đi trốn vì vẫn tin là mình đúng chứ không sai. Khi Cửu Trùng Đài bị đốt cháy, Vũ Như Tô bị đem đi hành quyết, ông mới đau đớn bừng tỉnh và xót xa và thốt lên câu “Thôi thế là hết. Dẫn ta đến pháp trường!”.

Dường như lúc này đây khát vọng nghệ thuật và thẩm mỹ, niềm đam mê chính đáng của người nghệ sĩ tài năng Vũ Như Tô đã đặt lầm chỗ, xa rời thực tiễn nên đã trở nên trả giá bằng cả sinh mạng của tớ và công trình xây dựng nghệ thuật và thẩm mỹ. nói theo cách khác rực rỡ về nghệ thuật và thẩm mỹ của kịch Vũ Như Tô được thể hiện qua đoạn trích nằm trong xích míc kịch, xung đột kịch đã phân tích ở trên.

Với việc xây dựng được những xích míc thì vở kịch mang tính chất cao trào mê hoặc người đọc. Và chính nhờ những mẫu thuẫn giằng xé này đa tạo lên sức hút cho tác phẩm “Vũ Như Tô” nói chung và đoạn trích “Vĩnh biệt cửu trùng đài” nói riêng. Đây quả thực là một tác phẩm hay của Nguyễn Huy Tưởng.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Hình ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” số 7

Vào năm 1516 dưới triều vua lợn Lê Tương Dực vốn nổi tiếng là ăn chơi, sa đọa đã sai Vũ Như Tô xây điện 100 nóc và xây công trình xây dựng quy mô lớn là Cửu trùng đài. đó là một sự kiện có thật được nhà viết kịch tài ba Nguyễn Huy Tưởng khai thác để dựng lên vở kịch “Vũ Như Tô” phản ánh hai xích míc cơ phiên bản về xã hội và con người. Đoạn trích “Vĩnh biệt cửu trùng đài” thuộc hồi cuối tác phẩm thể hiện cao trào kịch tính được đưa lên tới mức đỉnh điểm, cùng với đó là thảm kịch của nhân vật Vũ Như Tô và nữ phụ Đan Thiềm_những người nghệ sĩ say mê nét đẹp mà quên mất mối quan hệ giữa nghệ thuật và thẩm mỹ và cuộc sống thường ngày, giữa lí tưởng nghệ thuật và thẩm mỹ thuần túy với lợi ích của nhân dân.

Vũ Như Tô là một nhà kiến trúc sư tài xuất sắc bị Lê Tương Dực ép xây dựng Cửu trùng đài để làm nơi hưởng lạc vui chơi với cung nữ. Ông vốn là người nghệ sĩ chân chính lại gắn bó thân thiết với nhân dân nên đã từ chối, quyết không nhận lời và ngang nhiên mắng chửi tên hôn quân bạo ngược. Về sau thời điểm được Đan Thiềm_người cung nữ say mê nét đẹp và biết quý trọng người tài thuyết phục là lợi dụng tiền bạc và quyền lực tối cao của vua để xây dựng một tòa thành tháp cho nước nhà “Bền như sao trăng”, rất có thể “tranh tinh xảo với hóa công” và làm cho “dân ta nghìn thu còn hãnh diện”.

Tính từ lúc đó ông thay đổi thái độ đồng ý mệnh lệnh, dồn toàn bộ tài năng và trí tuệ sáng suốt để hoàn thành hoài bão, lí tưởng muốn điểm tô cho nước nhà. Chính việc làm ấy của Vũ Như Tô đã vô tình đẩy dân đen vào cảnh lầm than cực khổ khi sưu thuế ngày càng tăng cao, triều đình bắt thêm thợ xuất sắc, thẳng tay hạ chém những kẻ bỏ trốn, biết bao nhiêu người chết vì tai nạn. Nhân dân phẫn nộ nhà vua, oán giân Vũ Như Tô. Để rồi Trịnh Duy Sản kẻ cầm đầu phe phái đối lập với triều đình lôi kéo dân chúng đứng lên làm phản giết vua và bắt giết Vũ Như Tô cùng Đan Thiềm.

Mở đầu đoạn trích “Vĩnh biệt cửu trùng đài” là hình Hình ảnh cung nữ Đan Thiềm hớt hơ hớt hải chạy, mặt cắt không thể hột máu vào phục vụ yêu cầu tin tình thế nguy kịch, thúc giục, cầu xin, van nài Vũ Như Tô chạy trốn với những lời lẽ tha thiết, chân thành: “Ông nghe tôi! Ông trốn đi! Ông nghe tôi! Ông phải trốn đi mới được”, nàng chắp tay van lạy Vũ Như Tô hãy bỏ trốn gìn giữ tính mạng chờ thời cơ khác vì đại sự đã hỏng. Từng ví dụ hành vi và lời nói của Đan Thiềm chứng tỏ cô là một người rất quý trọng người tài, hiểu biết lo trước lo sau cho tài năng nước nhà. Cô xác minh: “Ông trốn đi. Tài kia không nên để uổng. Ông mà có mệnh hệ nào thì VN không thể ai điểm tô nữa”, con người ấy sẵn sàng quỳ dưới chân giặc cầu xin tha mạng cho ông Vũ, sẵn sàng xin chết thay ông nhưng Vũ Như Tô nhất quyết sống chết cùng đài cửu trùng mà không chịu rời đi để rồi gây nên tấn thảm kịch cho cuộc đời ông.

Vũ Như Tô coi Cửu trùng đài quý hơn sinh mạng của phiên bản thân, nó là cả phần xác lẫn phần hồn của ông và Đan Thiềm. Chính vì vậy mà ông mù quáng, u mê không thoát ra khỏi ảo vọng của tớ được. Quân làm phản càng ngày kéo đến càng gần nhưng con người ấy vẫn ngoan cố vẫn thiếu hiểu biết vì lí do gì họ lại muốn bắt mình, vẫn cố đấu lí với đời, với số phận: “Có lí gì để họ giết tôi?”, đứng trước quân khởi loạn vẫn tự trấn an mình và mọi người “Đời ta chưa tận, mệnh ta chưa cùng. Ta sẽ xây một tòa đài để tạ lòng tri kỉ”.

Bị bọn chúng bắt ông vẫn nuôi hy vọng rất có thể phân trần với chủ tướng về tấm lòng nguyện vọng của phiên bản thân mong sao để người đời hiểu cho nguyện ước ông đang tiến hành là vì vẻ đẹp ngàn năm của nước nhà. Ông vẫn say sưa giấc mộng của riêng mình về Đài Cửu Trùng: “Vài năm nữa, Đài Cửu Trùng hoàn thành, cao siêu, huy hoàng, giữa cõi trần lao lực, có một cảnh Bồng Lai…” Vũ Như Tô không thể tỉnh táo để nhận diện tình thế nguy kịch của hiện tại. Ông vẫn nghĩ mình bị hiểu nhầm, vẫn không tin rằng mình bị nhân dân oán hận, bị mọi người ghét bỏ, ông không tin dân chúng muốn phá Cửu Trùng Đài bởi đó là công trình xây dựng, là tòa thành tháp điểm tô cho nước nhà. Đứng ở khía cạnh người hùng thì đúng ông là con người dám làm dám chịu, có khí phách hiên ngang nhưng dựa trên yếu tố hoàn cảnh thực tại thì đó là bảo thủ, cố chấp.

Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài là biểu lộ cho tài năng của người nghệ sĩ, hiện thân cho sự khao khát và say mê sáng tạo nét đẹp đó là đúng đắn, là đáng trân trọng nhưng thực tiễn của nước nhà dân cùng khốn khổ nét đẹp ấy lại trở nên thật phù phiếm, xa xỉ bởi đã thấm đẫm máu, nước mắt và được xây trên thây xác của nhân dân. Dù là ước muốn cao đẹp của Vũ Như Tô nhưng ông đã vô tình gây ra tội ác, trở thành quân thù của dân chúng và thợ thuyền mà không hề hay biết. Đến khi kinh thành bị phát hỏa, quân lính cho hay đó là lệnh của An Hòa Hầu, tận mắt tận mắt chứng kiến cảnh Đài Cửu Trùng bốc cháy như giàn thiêu ông chỉ biết gào lên trong vô vọng: “Đốt thực rồi! Đốt thực rồi! Ôi đảng ác! Ôi muôn phần căm giận! Trời ơi! Phú cho ta cái tài làm gì? Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài!”.

Vũ Như Tô bị rơi từ đỉnh cao mộng tưởng xuống hố sâu của vô vọng. Nỗi đau và sự mất mát đã hòa vào nhau làm một dội lên tiếng kêu của đau thương, tang tóc. Những câu cảm thán thốt ra từ đỉnh điểm cảm xúc đau đớn vô cùng. Thật không mong muốn với những thắc mắc lớn của Vũ Như Tô đến khi chết ông vẫn thiếu hiểu biết tại vì sao lại ra nông nỗi: “Ta tội gì? Ta vô tội! Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu trùng đài! Tấn thảm kịch ấy là cái giá mà ông phải trả vì không nhận thức rõ vấn đề muôn thuở và thực tại.

Vũ Như Tô đã thiếu hiểu biết được mối quan hệ giữa nghệ thuật và thẩm mỹ và cuộc sống thường ngày. nghệ thuật và thẩm mỹ được sáng tạo và xây dựng lên sau cuối cũng phải vì phục vụ cho đời sống nhân dân. Đó mới là nghệ thuật và thẩm mỹ vị nghệ thuật và thẩm mỹ. Còn nghệ thuật và thẩm mỹ không thể chỉ để thỏa mãn thị hiếu tài năng, lí tưởng của người nghệ sĩ mà quên mất rằng nét đẹp phải gắn với điều thiện, đẹp thiện không thể tách rời được nhau. Đứng trên lập trường người nghệ sĩ Cửu trùng đài là nét đẹp tuyệt mĩ, đứng trên lập trường của nhân dân nó là một bông hoa ác thấm đẫm máu. Cái giá mà Vũ Như Tô phải trả là ông chỉ nghĩ mình là nghệ sĩ chân chính mà quên mất rằng mình cũng là một công dân của nước nhà.

Như vậy qua đoạn trích “Vĩnh biệt cửu trùng đài” nhà văn đã tái hiện lại thảm kịch của Vũ Như Tô và Đan Thiềm gặp phải phản ánh thâm thúy hai xích míc của thời đại. xích míc thứ nhất là xích míc của tập đoàn lớn phong kiến Lê Tương Dực ăn chơi, hưởng lạc với yếu tố hoàn cảnh bị nghèo nàn hóa của nhân dân. xích míc thứ hai trong phiên bản thân con người Vũ Như Tô và Đan Thiềm. Đó là xích míc giữa người công dân và người nghệ sĩ và phản ánh mối quan hệ giữa nghệ thuật và thẩm mỹ và cuộc sống thường ngày. Hai xích míc này tác động lẫn nhau.

Đan Thiềm thuyết phục Vũ Như Tô xây dựng Cửu trùng đài càng làm cho xích míc xã hội tăng cao, người nghệ sĩ càng hăng hái sáng tạo nét đẹp nghệ thuật và thẩm mỹ bao nhiêu thì càng xích míc với lợi ích công dân bấy nhiêu. Thật không mong muốn cho một người tài năng lại bị đặt nhầm chỗ, không đúng thời thế để rồi con người ấy, tài năng ấy bị tàn phá bởi thực tại cuộc sống thường ngày. Qua đó ta cũng nhận thức được bài học nét đẹp nghệ thuật và thẩm mỹ chỉ thực sự mong muốn và có ý nghĩa khi đời sống vật chất được phục vụ yêu cầu đủ, lợi ích của nhân dân phải được đặt lên hàng đầu. Quan điểm đó đến thời đại này vẫn không hề lỗi thời mà nó luôn luôn đúng trong mọi yếu tố hoàn cảnh. Đảng và nhà VN luôn luôn vận dụng nó vào để duy trì và phát triển nước nhà.

Đoạn trích đã xử lý được xích míc xã hội nhưng xích míc cá thể với hai tư cách nghệ sĩ và công dân chưa được xử lý điểm biểu lộ trong lời nói sau cuối của Vũ Như Tô “Ta tội gì. Không ta chỉ có một hoài bão là tô điểm nước nhà, đem hết tài năng ra xây cho nòi giống một tòa đài hoa lệ rất có thể thử thách với công trình xây dựng trước sau, tranh tinh xảo với hóa công” và lời đề tựa vở kịch của tác giả: “Chẳng biết Vũ Như Tô phải hay những kẻ giết Vũ Như Tô phải, ta chẳng biết. Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”. Nguyễn Huy Tưởng trân trọng tài năng, say mê nét đẹp, cảm thông cho Vũ Như Tô nhưng ông cũng không đống ý với nhân vật và những người nghệ sĩ chỉ biết quan tâm đến nét đẹp mà không vì quyền lợi của nhân dân.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Hình ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” số 8

trong những nhà văn Việt Nam, Nguyễn Huy Tưởng là tác giả có thiên hướng rõ rệt về đề tài lịch sử vẻ vang. những tác phẩm của ông về đề tài này tái hiện những cột mốc lịch sử vẻ vang quan trọng suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc. Tiểu thuyết Đêm hội Long Trì viết về những ngày nước nhà chìm trong đêm tối đau thương bởi sự hèn yếu và nhiễu nhương bởi tay một người phụ nữ có nhan sắc khuynh thành làm chúa Trịnh mê đắm đến mụ mị và đứa em trời đánh của tớ: Tuyên phi Đặng Thị Huệ cùng “cậu trời” Đặng Mậu Lân.

Tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ vàng đưa chúng ta đọc (nhất là những em thiếu nhi) ngược dòng thời hạn về với triều đại nhà Trần, với người thiếu niên nhân vật Trần Quốc Toản hiên ngang, tay bóp nát quả cam, tay phất cao lá cờ “Phá cường địch, báo hoàng ân” xin đức thượng hoàng cho cầm quân đánh giặc. Tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô lại là khúc tráng mệnh danh ca người thủ đô hà nội quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh trong ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp vào mùa đông năm 1946.

Còn với vở thảm kịch Vũ Như Tô, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng lại khai thác bối cảnh Thăng Long trong những năm quằn quại dưới sự bạo tàn của Lê Tương Dực trải qua hình Hình ảnh Cửu Trùng Đài “huy hoàng giữa cõi trần lao lực” và người nghệ sĩ “tranh tinh xảo với hóa công”: Vũ Như Tô. trải qua vở kịch này, Nguyễn Huy Tưởng muốn đề cập đến người nghệ sĩ và thảm kịch của họ, thảm kịch nét đẹp bị lợi dụng. thảm kịch ấy được triệu tập tối đa trong hồi V – hồi kết của vở kịch: Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài.

Xuyên xuốt vở kịch, Nguyễn Huy Tưởng đã xây dựng Vũ Như Tô và Cửu Trùng Đài như một hiện thân của nét đẹp. Người nghệ sĩ mong muốn tạo tác nên một tác phẩm nghệ thuật và thẩm mỹ vĩnh cửu nhằm mục đích “ tô điểm cho nước nhà, đem hết tài ra xây cho giống nòi một tòa đài hoa lệ, thách cả những công trình xây dựng sau trước, tranh tinh xảo với hóa công”. Đó là nét đẹp thuần khiết của nghệ thuật và thẩm mỹ, nhằm mục đích phụng sự nhân dân, phụng sự nước nhà, có giá trị tôn vinh người Việt.

Nhưng không mong muốn, nét đẹp mà Vũ Như Tô mong muốn ấy đã trở nên lợi dụng và hoen ố bởi những dục vọng thấp hèn và toan tính chính trị của người đời. trong những hồi trước, chúng ta thấy nét đẹp đã lần lượt phải chịu những oan khuất như bị tha hóa (Lê Tương Dực chỉ coi Cửu Trùng Đài là chốn an chơi hưởng lạc chứ không phải là công trình xây dựng nghệ thuật và thẩm mỹ để lại cho muôn đời sau như yêu cầu của Vũ Như Tô), hiểu lầm (Nhân dân coi Cửu Trùng Đài là cội nguồn gây nên đau khổ của họ chứ không phải là chính sách nghiêm ngặt của triều đình phong kiến đương thời) và lợi dụng (Trịnh Duy Sản dùng Cửu Trùng Đài như công cụ thổi bùng lên những uất ức trong tâm dân chúng, tạo thành một thời thế hỗn loạn để thuận tiện cho thủ đoạn giết vua đoạt quyền của tớ).

Đến hồi kết Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, khi toàn bộ những bức xúc, những xích míc không thể điều hòa được ấy được dồn nén và bung ra một cách mạnh mẽ và uy lực nhất, tất yếu nét đẹp phải gánh chịu số phận nghiệt ngã đó là sự việc bức tử. Chỉ trong hồi cuối này, chúng ta thấy trải qua hàng loạt những thủ pháp kịch lạ mắt, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã dụng công lột tả năm lần nét đẹp bị bức tử một cách đầy cay đắng.

Thứ nhất, bức tử về quan niệm. Cửu Trùng Đài trong con mắt quân khởi loạn không phải là công trình xây dựng thế kỷ, vĩnh cửu cùng hóa công và Vũ Như Tô không phải là “nguyên khí của vương quốc” để phải trân trọng, kính phục. Với bọn chúng và tuyệt đại phần tử nhân dân lao động, Cửu Trùng Đài và Vũ Như Tô chỉ là những thứ, những kẻ làm “hao hụt công khố, để dân gian lầm than”, tạo thành “mấy nghìn người chết… mẹ mất con, vợ mất ông xã”. Sự bức tử về quan niệm này là kết quả của sự tích tụ, dồn nén những oan khuất mà nét đẹp phải chịu trong những hồi trước như công ty chúng tôi đã đề cập ở trên.

Và khi toàn bộ những quy trình ấy được đưa lên tới mức ranh giới sau cuối thì việc nét đẹp bị bức tử cũng là điều tất yếu. Cái chết của nét đẹp đã giúp nhà văn Nguyễn Huy Tưởng nêu bật lên vai trò của việc điều hòa giữa việc phục vụ đời sống số lượng dân sinh và khát vọng vươn lên chiếm giữ đỉnh cao bằng mọi giá của nghệ thuật và thẩm mỹ. Nếu thiên về số lượng dân sinh, nghệ thuật và thẩm mỹ sẽ không còn thể là chính mình. Nhưng nếu chỉ biết đến phiên bản thân mình, nghệ thuật và thẩm mỹ rất rất có thể lại là hóa thân của điều ác.

Thứ hai, bức tử về việc thấu hiểu, cảm thông và share. Tấm lòng biệt nhãn liên tài mà Đan Thiềm giành riêng cho Vũ Như Tô đã trở nên những cung nữ, Kim Phụng và quân khởi loạn vu khống gán ghép cho tội “tư thông” – một tội danh xúc phạm nặng nề đến nhân cách con người. hành vi cầu xin tha mạng cho Vũ Như Tô vì “VN còn cần nhiều thợ tài để tô điểm” của Đan Thiềm bị xem là lời xin của con “dâm phụ” cho kẻ “gian phu”. Thật đau đớn và chua xót cho một tấm lòng “vì thiên hạ” mà chịu nỗi oan tày đình như vậy. Nếu Đan Thiềm – trong giây phút tính mạng phiên bản thân gặp nguy hiểm – mà “trở mặt” hùa về phe cung nữ và Kim Phượng thì chắc nàng đang không xẩy ra vu khống cho tội danh ghê gớm như vậy. Rõ ràng ở đây mọi sự share, cảm thông và thấu hiểu với nét đẹp đã trở nên loại bỏ trừ một cách tàn bạo, không chút thương tiếc.

Thứ ba, bức tử về việc thanh minh. Tính đến tận phút giây nguy nan nhất, Vũ Như Tô vẫn muốn đến gặp An Hòa Hầu để “phân trần, để giảng giải” về vai trò của Cửu Trùng Đài. Vũ Như Tô tin tưởng rằng Nguyễn Hoằng Dụ thấu hiểu và cho mình hoàn thành nốt “Cửu Trùng Đài, dựng một kì công muôn thuở”. Nhưng đáp lại những lời ý kiến đề nghị tha thiết, đầy chân thành ấy là những tràng cười ầm lên, là những lời xỉ vả và những cái tát vào miệng Vũ Như Tô của quân khởi loạn. Ở đây, nét đẹp đã trở nên tước đi quyền thanh minh cho phiên bản thân mình.

Thứ tư, bức tử về vật chất. Cửu Trùng Đài, hiện thân của nét đẹp sau cùng đã thành đống tro tàn trước mệnh lệnh phóng hỏa của An Hòa Hầu. công trình xây dựng hứa hẹn là kì công của con người đã thành tro bụi trước việc bạo tàn trong vui vẻ đáng ngạc nhiên của con người. Sự sụp đổ của Cửu Trùng Đài là sự việc biến mất vĩnh viễn sự hiện hữu của nét đẹp. Cửu Trùng Đài giờ chỉ được lưu giữ trong ký ức, trong nỗi hoài niệm của những con người nhận chân được giá trị đích thực của nét đẹp.

Thứ năm, bức tử về con người nghệ sĩ. Bị hiểu lầm về mục đích xây dựng Cửu Trùng Đài, người tri âm tri kỷ cũng mất, không tồn tại thời cơ thanh minh, và quan trọng nhất là công trình xây dựng thể hiện ước mơ, hoài bão của cả đời người bị thiêu rụi… sau toàn bộ những sự chà đạp, những tổn thương ấy, việc người nghệ sĩ Vũ Như Tô bị/hay mong muốn đưa ra pháp trường cũng là điều dễ hiểu. Cái chết của Vũ Như Tô là nỗi đau sau cuối và lớn nhất về nét đẹp bị bức tử một cách toàn vẹn.

Than ôi! Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải? Ta chẳng biết. Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm. Lời đề tựa của vở kịch giúp chúng ta thấy ấm lòng. Hóa ra, nét đẹp dẫu phải chịu sự bức tử ghê gớm đến nhường nào thì vẫn mãi vĩnh cửu. Người đương thời thiếu hiểu biết thì hậu thế sẽ hiểu. Lê Tương Dực, An Hòa Hầu và người dân Thăng Long thiếu hiểu biết Vũ Như Tô thì Nguyễn Huy Tưởng và thế hệ thời đại này hiểu ông, trân trọng tài năng và tâm huyết của ông so với sự nghiệp điểm tô non sông nước nhà.

tuy nhiên nào đi chăng nữa, nét đẹp sau cuối sẽ hoàn thành sứ mệnh cao siêu “cứu rỗi trái đất” như lời văn hào Dostoevsky. Đây có lẽ mới là thông điệp chính của vở thảm kịch Vũ Như Tô.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Hình ảnh minh họa (Nguồn internet)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button