Pháp Luật

Ý thức là gì? Phân tích vai trò và tác dụng của ý thức

Ý thức là gì? Phân tích vai trò của Ý thức đối với cuộc sống? Ý nghĩa của ý thức. Để giải đáp những thắc mắc này, mời các bạn tham khảo nội dung bài viết sau đây.

1. Ý thức là gì?

Ý thức theo tâm lý học được xác định là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ tồn tại ở con người. Ý thức là sự phản ánh bằng ngôn ngữ những gì con người đã tiếp thu trong quá trình tác động qua lại với thế giới khách quan.

Theo định nghĩa của triết học Mác – Lênin, ý thức là một phạm trù song song với phạm trù vật chất. Theo đó, ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào bộ não con người và có thể thay đổi, sáng tạo. Ý thức có mối quan hệ hữu cơ với vật chất.

2. Nguồn gốc của Ý thức

2.1. Nguồn gốc tự nhiên

Trên cơ sở những thành tựu của khoa học tự nhiên, đặc biệt là sinh lý học thần kinh, các nhà duy vật biện chứng cho rằng nguồn gốc tự nhiên của ý thức Có hai yếu tố không thể tách rời nhau não người thế giới bên ngoài ảnh hưởng đến não bộ của con người.

Một. Não người

– Đây là dạng vật chất sống đặc biệt, có tổ chức cao, trải qua quá trình tiến hóa sinh học và xã hội lâu dài. Ý thức là một thuộc tính của riêng hình thức vật liệu này.

Đó là, chỉ con người mới có ý thức. Không có cấu trúc vật chất nào khác, thậm chí không phải động vật thông sáng chói hầu hết đều có khả năng này.

Ý thức phụ thuộc vào hoạt động của não người nên khi bị tổn thương não hoạt động ý thức không diễn ra bình thường hoặc bị rối loạn.

Tuy nhiên, nếu chỉ có não mà không có thế giới bên ngoài tác động lên não thì không có ý thức. Vì vậy, nguồn gốc tự nhiên cần một yếu tố thứ hai, thế giới bên ngoài.

b. Tác động của thế giới bên ngoài đến bộ não con người

– Trong tự nhiên, mọi vật thể vật chất (khỉ, voi, bàn, mặt nước, gương…) đều có những tính chất chung, chung là phản ánh. Đó là sự tái tạo các đặc điểm của hệ thống vật chất này trong hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại của chúng.

Nói một cách dễ hiểu, phản ánh là sự ghi lại, chụp ảnh, kể lại một điều gì đó. Sao chép các từ trên giấy là một sự phản ánh. Chụp ảnh cũng là một sự phản ánh.

Để sự phản xạ diễn ra cần có tác nhân và tác nhân tiếp nhận.

– Tất nhiên, bộ não con người cũng có thuộc tính phản ánh. Nhưng sự phản ánh của bộ não con người tiên tiến và phức tạp hơn các dạng vật chất khác.

Sau quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên, con người trở thành sản phẩm cao nhất, đồng thời thuộc tính phản ánh của bộ não con người cũng là hoàn hảo nhất so với mọi vật thể khác trong tự nhiên.

Chính vì sự hoàn hảo như vậy nên đặc tính phản xạ của bộ não con người được đặc biệt gọi là phạm trù “ý thức“. Đó là sự phản ánh, tác động của thế giới bên ngoài vào bộ não con người.

2.2. Nguồn gốc xã hội

Để ý thức ra đời, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng, tất yếu, nhưng chưa đủ. Điều kiện quyết định, trực tiếp và quan trọng nhất để ra đời ý thức là tiền đề, là nguồn gốc xã hội. Đó là lao động, tức là Ý thức xã hội và Ngôn ngữ.

Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ não con người thông qua lao động, ngôn ngữ và các thiết chế xã hội. Theo Ph.Ăngghen, lao động và ngôn ngữ là hai kích thích biến não động vật thành não người, tâm thần động vật thành ý thức người.

Một. Nhân công

– Trong tự nhiên, động vật tồn tại nhờ những vật dụng có sẵn như hoa quả, côn trùng hay động vật yếu hơn nó… Nhưng đối với con người thì khác.

Con người có khả năng và nghĩa vụ sản xuất ra những sản phẩm mới (bàn ghế, quần áo, ti vi, tủ lạnh,…) khác với những sản phẩm hiện có. Tức là con người phải lao động để đáp ứng nhu cầu cuộc sống.

Chính nhờ lao động hay còn gọi là hoạt động cải tạo thế giới khách quan mà con người có thể phản ánh, biết được nhiều điều bí mật về thế giới đó và trở nên có ý thức về thế giới này. .

– Nhưng ở đây, không phải ngẫu nhiên mà thế giới khách quan tác động vào bộ não con người để làm cho con người có ý thức. Ý thức có được chủ yếu do con người tác động tích cực vào thế giới khách quan để cải tạo, cải tạo nó tạo ra sản phẩm mới.

Bằng cách tác động tích cực vào thế giới khách quan, con người buộc các vật có thật (núi, rừng, sông, mỏ than, sắt, đồng …) bộc lộ tính chất, cấu tạo, quy luật của chúng. Những tiết lộ này tác động vào não người để hình thành ý thức của con người.

b. Ngôn ngữ

Trong quá trình làm việc, mọi người xuất hiện nhu cầu trao đổi kinh nghiệm và ý tưởng với nhau, tức là có nhu cầu nói chuyện với nhau. Chính nhu cầu này đòi hỏi sự ra đời của các ngôn ngữ, trước hết là ngôn ngữ nói, sau đó là chữ viết.

Ngôn ngữ được hình thành do nhu cầu lao động và do sức lao động. Nó là một hệ thống các tín hiệu vật lý mang nội dung ý thức. Nếu không có hệ thống tín hiệu này, ý thức không thể tồn tại và biểu hiện.

Theo C. Mác, ngôn ngữ là vỏ vật chất của tư tưởng, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng. Không có ngôn ngữ, con người không thể có ý thức.

Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp, vừa là công cụ của tư duy. Nhờ ngôn ngữ, con người có thể khái quát hóa và trừu tượng hóa, nghĩa là diễn đạt các khái niệm và phạm trù, tư duy, tách mình ra khỏi những điều thuộc về tình cảm.

Cũng nhờ ngôn ngữ, kinh nghiệm của con người, kiến ​​thức được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

3. Bản chất của ý thức

Trong lịch sử triết học, triết học duy tâm quan niệm ý thức là một thực thể độc lập, là thực tại duy nhất, do đó đã phóng đại tính năng động của ý thức đến mức coi ý thức sinh ra vật chất, không phải là vật chất phản ánh.

Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não con người thông qua Ý thức, vì vậy bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh sáng tạo. thế giới vật chất.

Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Có nghĩa là nội dung của ý thức do thế giới khách quan quy định, nhưng ý thức là hình ảnh chủ quan, hình ảnh tinh thần chứ không phải là hình ảnh vật chất, vật chất như trong chủ nghĩa duy vật tầm thường. thường được quan niệm.

Khi nói ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan thì cũng có nghĩa là ý thức là sự phản ánh thế giới một cách tự giác, sáng tạo.

+ Phản ánh ý thức là sáng tạo, vì nó luôn được quyết định bởi nhu cầu Ý thức. Nhu cầu đó đòi hỏi chủ thể phản ánh phải có khả năng đánh giá đúng những gì được phản ánh. Trên cơ sở đó, những hình ảnh tinh thần được hình thành và những hình ảnh đó ngày càng phản ánh chính xác hiện thực khách quan, Song, sự sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo ra phản ánh, trên cơ sở phản ánh. .

Sự phản ánh có ý thức là sáng tạo, vì sự phản ánh đó luôn dựa trên hoạt động của Ý thức và là sản phẩm của các quan hệ xã hội. Là sản phẩm của các quan hệ xã hội, ý thức mang bản chất xã hội.

Quan điểm trên đây của triết học Mác về nguồn gốc và bản chất của ý thức hoàn toàn đối lập với chủ nghĩa duy tâm coi ý thức và tư tưởng là cái có trước, sinh ra vật chất và chủ nghĩa duy vật tầm thường coi ý nghĩa là cái có trước. là một dạng vật chất hay coi ý thức là sự phản ánh đơn giản, thụ động thế giới vật chất.

4. Vai trò của ý thức

+ Khẳng định vật chất là nguồn gốc khách quan, là cơ sở để sinh ra ý thức, còn ý thức chỉ là sản phẩm và là sự phản ánh thế giới khách quan trong nhận thức và hành động của con người, nó phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng và hành động theo hiện thực khách quan.

+ Khẳng định ý thức có vai trò tích cực trong sự tác động trở lại vật chất, cần có phép biện chứng duy vật trong nhận thức và hoạt động. Ý thức con người cần nhận thức và vận dụng quy luật khách quan. chủ động, sáng tạo, chống tiêu cực, thụ động.

+ Phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò của nhân tố con người tác động, cải tạo thế giới khách quan, đồng thời phải khắc phục bệnh bảo thủ, trì trệ, tiêu cực, ỷ lại, ỷ lại.

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác tại mục Tài liệu của Wiki ADS VN.

.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button